Văn cúng vong cho linh hồn thai nhi siêu thoát tại nhà

Có thể nói, Khi mang thai được là niềm hạnh phúc rất lớn của các cặp vợ chồng. Nhưng vì một số lý do nào đó mà họ bắt buộc phải bỏ thai nhi ( VD: Trong quá trình mang thai bị cúm, sởi .v.v.v.) Việc náo pha thai là một hành động hết sức tội lỗi. Bởi chúng ta đã phá hoại, hủy hoại một sinh linh. Khi thai nhi chết đi thường trở thành những oan hồn, mang trong lòng oán hận vì cha mẹ không cho con chào đời, tạo ra nhiều nghịch cảnh.

Với những người mẹ, người cha bị vong thai nhi oán giận như thế cũng rất dễ dàng giao lưu với vong con mình trong một số hoàn cảnh và điều kiện quy định. Mặc dù khi chết như trong trạng thái nạo, hút, phá thai bằng những biện pháp cực đoan, nhưng vong vẫn phát triển tư duy theo năm tháng. Ví dụ sau 40 năm (thời gian cõi trần) thì thai nhi giống như đứa trẻ đã 4 tuổi (thời gian cõi âm).

Xem thêm: Vong hài nhi đỏ.

Những thai nhi nếu không được cha mẹ quan tâm (cúng lễ) thì rất oán giận và hay làm tổn thương cha mẹ bằng các chứng bệnh tật, ốm đau.

vong hài nhi

Bởi vậy những người mẹ có phá bỏ thai (từ độ tuổi có tim thai) mà trải qua thời gian đang mạnh khỏe bỗng nhiên trở nên hay đau yếu lắm bệnh tật thì điều đầu tiên phải nghĩ tới là thai nhi đang oán trách, do vậy phải biết con cái mà mình đã bỏ thuộc vào độ tuổi nào để biết cách cúng lễ cho chúng áo quần, đồ ăn thức uống phù hợp thì sẽ khỏi bệnh.

Việc cúng vong hồn thai nhi, giúp thai nhi siêu thoát là một điều hết sức quan trọng. Dù vô tình hay cố ý đã phạm lầm lỡ, mọi người hãy tìm cách hóa giải nghiệp chướng đó cho lòng thanh thản. Cho những vong nhi được ngậm cười, yên lòng đi đầu thai nơi cửa khác. Rất nhiều người đã làm lễ cầu siêu để tạ lỗi với con và mong linh hồn con siêu thoát.

Bài viết dưới đây những điều ba mẹ cần làm tham khảo trên trang Bát Quái để những bạn nào mắc phải nghiệp này có thể tham khảo và áp dụng.

1. Đặt tên cho thai nhi

Đức Dalai Latma đã khẳng định: “Phật giáo quan niệm rằng ý thức xâm nhập ngay từ phút giây đầu tiên của sự thụ thai”. Chính vì thế, bào thai dù chỉ mới hình thành vẫn có thể được coi như một con người. Và thai nhi cũng có rất nhiều cảm xúc khi bị bỏ. Một trong những cảm xúc ấy là tủi thân, tủi phận về số kiếp của mình đã không may mắn được làm người.

thai nhi

Khi người mẹ phá thai là đã tạo tội, đã thiếu nợ với vong linh thai nhi ấy, do đó đặt một cái tên đàng hoàng giống như đang chuộc lỗi vậy. Nó nói lên cái tâm hối lỗi và muốn chuộc tội của cha mẹ. Chỉ như vậy thôi đã để lại sự cảm thông của vong linh thai nhi nhiều rồi.

Nếu cha mẹ nào chưa đặt cho con cái tên thì ngay bây giờ hãy làm liền đi, đừng nghĩ là con mất lâu rồi nên không cần đặt tên. Nên nhớ có những “vong” thai nhi không những theo cha mẹ kiếp này mà còn theo cho đến những kiếp khác nữa. Cuộc sống của ta trải qua mấy mươi năm rồi ra đi, nhưng nếu lúc sống lỡ phạm vào nghiệp này nếu chưa hóa giải được, có thể “vong thai nhi” đó sẽ theo ta đến kiếp khác.

2. Bài cúng cầu vong thai nhi được siêu thoát

Sách nhà Phật có nói, được làm người khó như một con rùa mù ở giữa biển cả mênh mông, phải rất lâu mới trồi lên được mặt nước một lần. Trên mặt biển có một khúc gỗ mục trôi, con rùa làm sao trồi lên gặp đúng bộng cây đang trôi vô định đó, điều ấy thật khó xảy ra. Vậy, khi một người mẹ chối bỏ một thai nhi nghĩa là chỉ trong một phút, họ đã phá đi sự cố gắng, tu tập một kiếp thậm chí là ngàn kiếp của đứa trẻ đó.

Chính vì vậy, vong thai nhi khi bị phá bỏ thường chuyển từ yêu thương sang oán hờn nên rất khó siêu thoát. Gia đình phải tổ chức lễ cầu siêu cho vong thai, giúp thai nhi sớm được siêu thoát. Để cầu cho con bớt khổ thì cha mẹ hãy nguyện làm một điều tốt đẹp, có phước đức rồi hồi hướng cho con. Thay vì cứ ngồi mà nói cha mẹ đã ăn năn thì hãy làm một việc gì đó có nghĩa thì ích lợi hơn nhiều.

Lễ nghi và bài cúng vong thai nhi tại nhà:

+ Đồ cúng cho vong thai nhi:

– Sữa ông thọ pha ra ly hoặc sữa hộp nhỏ (cô gái Hà Lan, Vinamilk. vv…kèm ống hút)

– Bánh kẹp loại ngon ( không phải loại cúng cô hồn ), Sô cô la càng tốt.

– Tùy bạn bỏ hay mất bao nhiêu thai nhi , thì cứ 1 thai nhi là 2 bộ quần áo giấy nam , nữ (nếu như không biết giới tính thai nhi) kèm theo giấy tiền vàng bạc.

+ Bài cúng cho vong thai nhi:

“OM AH HUNG Xin nhờ lửa làm tan chảy không còn sót những món diệu dục đơn giản nhưng quí giá này hóa một đám mây vô tận trong không gian thành một tiệc cúng dường không chấp trước, xin cho con dâng cúng lên chín phương Trời mười Phương Phật chư Phật mười phương.

Hôm nay là ngày… tháng… năm… Tín chủ con là… ở tại số nhà… thành kính dâng lên cúng dường Chư Phật mong Chư Phật ban phước cho toàn thể chúng sinh không chừa sót một ai những điều an lành nhất. Con cũng xin nhờ vào tiệc cúng dường này, ánh sáng từ bi và trí tuệ của Chư phật sẽ hiện hữu trong tâm con và tất cả mọi người đồng thời chiếu sáng tất thảy các cõi khác để tất thảy hướng về Phật Pháp. Con nguyện với lòng thành tâm của mình trước Chư Phật xin được sám hối mọi lỗi lầm do thân khẩu ý con đã phạm phải từ trước tới nay.
Con xin cúng dường tới các chư thiên, thiện thần, hộ pháp mong các ngài che chở cho con cùng gia đình luôn an lành, thoát khỏi mọi thế lực xấu và ác của cõi dương và cõi âm.

Con cũng xin được nhờ vào lễ hỏa cúng này, hồi hướng cầu siêu cho tất cả các chúng sinh không chừa sót một ai đang lang thang trong cõi thân trung ấm hay cõi âm để họ bớt sợ hãi, đau khổ và nhanh chóng được chuyển nghiệp. Con cầu xin được cầu siêu cho cửu huyền thất tổ gia tiên gia tộc họ… cho cha…, mẹ… hay…. được hoan hỉ và sớm siêu thoát về nơi cực lạc hay cõi an lành khác”.

+ Bỏ đồ cúng cho vong nhi vào đốt… rồi khấn tiếp:

“Đặc biệt con xin được thành tâm sám hối cho nghiệp sát con phạm phải đối với các hài nhi đã từng kết duyên cùng con mà con chối bỏ. Cầu mong các hài nhi tha thứ và xóa bỏ mọi tâm tư oán hờn gây chướng ngại tới con, cầu mong các vong nhi buông bỏ và sớm chuyển đầu thai vào các cõi an lành mới. Cầu mong tất cả các vong nhi khác cũng đều hoan hỉ và siêu thoát như vậy.

Con nguyện sẽ gắng làm những điều thiện để hồi hướng, trợ duyên cho các vong nhi sớm được siêu thoát (nguyện thêm gì tùy tâm khấn ra…). Cầu mong cho lời nguyện lành của con được thành sự thật.

Nếu đã tu thì đọc mật chú, nếu không biết thì đọc thần chú sáu âm của Bồ tát Quán Thế Âm “OM MA NI PADE ME HUM” 108 lần (Cách đọc: “ôm ma ni pát đờ (đờ đọc thầm âm gió) mê hum”.

Sau khi cúng xong hãy nói:

“Lễ hỏa cúng đến đây là kết thúc, xin được mời các ngài và các chư vị an tọa về nơi trụ xứ của mình và chỉ trở lại khi gia chủ có lời thỉnh mời. Xin các vong hãy hoan hỷ đón nhận tấm lòng thành của gia chủ mà sớm được siêu thoát”. Cũng xin che chở cho gia chủ mọi sự được tốt đẹp an lành. Gia chủ xin cảm tạ.

3. Những lưu ý khi cúng

1.Thắp 3 cây nhang, cháy được 1/2 cây, bắt đầu hóa mã quần áo giấy , đổ sữa xuống đất từ từ và nhẹ nhàng (đổ trên mâm nếu cúng trong nhà). Đồ ăn không bỏ, chia nhau cả nhà dùng bình thường vì không phải đồ cúng cô hồn.

2. CÚNG NỬA TRONG NỬA NGOÀI NHÀ (nhà tầng thì cúng trong nhà nếu không có sân) để trên cái bàn nhỏ, không được đặt trên bàn thờ Phật hay Gia Tiên.

3. CÚNG trong thời gian từ 7H SÁNG ĐẾN 5H CHIỀU, SAU 5H CHIỀU, THAI NHI SẼ không được phép nhận đồ cúng nên sẽ thành vô ích hết nếu cúng lố giờ.

4. Nếu có điều kiện, hãy làm đều đặn mỗi tháng vào các ngày rằm. Nếu không, cố gắng làm vào các dịp như rằm: tháng giêng, tháng 4, tháng 7, tháng 8, tháng chạp. Nó đem lại cho các bạn nhiều điều lợi lạc hơn bạn tưởng.

Hi vọng với Bài cúng vong thai nhi tại nhà cho linh hồn siêu thoát giúp mọi người có thể cầu siêu cho thai nhi được yên nghỉ, nhanh chóng chọn được gia đình mới, để sống kiếp khác tốt hơn.

Điềm báo khi đang ăn bị gãy đũa

Đôi đũa Gỗ

Trên khắp đất nước Việt nam, người dân đều sử dụng đũa trên mâm cơm để gắp thức ăn. Việc dùng đũa để gắp thức ăn không những trở thành thói quen bất di bất dịch mà chúng còn là vật dụng không thể thiếu trong những bữa ăn hàng ngày của chúng ta.

Đôi đũa Gỗ

Chất liệu để tạo nên đũa ăn vô cùng đa dạng cũng như muôn hình vạn trang, có thể từ nguyên liệu kim loại như: Vàng, bạc, inox hay đến nay người ta sử dụng những loại nguyên liệu gần gũi với con người hơn như gỗ, tre, trúc ….

Khi còn nhỏ, tay ta chưa quen cầm nắm thì bạn sử dụng thìa, còn khi lớn lên bạn sẽ phải học cách cầm đũa để gắp thức ăn. Vì vậy, đôi đũa dần đã trở thành hình ảnh bình thường không thể thiếu trong cuộc sống của Người Việt Nam.

Việc sử dụng đũa là học cách ăn của những loài chim. Vậy Gẫy đũa là điểm báo gì, Có xui xẻo không ? 

Với niềm tin tâm linh bất diệt của Người Việt Nam từ trước đến nay, thì bất cứ một chuyện gì nhù nhỏ xảy ra thì họ đều cho rằng đây là dấu hieeujc ủa một điềm báo nào đó và gãy đũa cũng không phải là ngoại lệ.

Chính vì vậy, những người đột nhiên bắt gặp trường hợp này, đều thắc mắc rằng: Gãy đũa là điềm báo gì, có xui không?

Có nhiều người cho rằng gãy đũa chính là điềm báo xấu, xui xẻo mà người đó sẽ gặp phải cụ thể là những việc trong gia đình sẽ cãi cọ, không còn hòa thuận với nhau, Đối với Công việc thì sẽ trở nên trắc trỏ, khó khắn.

Tuy nhiên, đây chỉ là sự phán đoán của những người trước đây. Còn việc bạn đang ăn cơm mà đũa gãy thì được coi là bình thường, bởi những chất liệu như gỗ, nhựa khi tác động  một ngoại lực đủ mạnh sẽ khiến chúng bị gãy mà thôi.

Bạn cũng cần phải Lưu ý rằng trong khi ăn uống không nên thực hiện những hành động như sau: 

Khi ăn uống nên hạn chế gõ, khua chén đũa

Không cắm đũa đứng giữa bát cơm. vì đó là hình thức cũng tế, cũng giống như kiểu thắp hương, dễ dẫn dụ ma quỷ vào nhà ăn chung.

Với quan điểm của người viết bài này thì: Gãy đũa là việc bình thường, không phải là vấn đề khiến bạn băn khoăn và lo lắng.

ST

Nhân quả báo ứng hiện hữu, nghiệp báo thiện ác

nhân quả có thật

Nhân quả báo ứng – Phật Đà cảnh báo thế nhân: Trong đại dương mênh mông rộng lớn, miếng gỗ đục lỗ tròn trôi dạt vô định. Trong biển sâu có một con rùa mù, một trăm năm nổi lên mặt nước một lần, va phải lỗ hổng miếng gỗ. Khi một người khi mất đi nhân thân, cơ hội có lại được thấp hơn rất nhiều việc con rùa chui Phật Đà cảnh báo thế nhân: Trong đại dương mênh mông rộng lớn, miếng gỗ đục lỗ tròn trôi dạt vô định. Trong biển sâu có một con rùa mù, một trăm năm nổi lên mặt nước một lần, va phải lỗ hổng miếng gỗ. Khi một người khi mất đi nhân thân, cơ hội có lại được thấp hơn rất nhiều việc con rùa chui vào cái lỗ trên miếng gỗ.vào cái lỗ trên miếng gỗ.

Trong kinh tự thánh nhân để lại, chúng ta may mắn được lĩnh hội những giáo điều của Phật Đà và Bồ Tát. Từ những lời khuyên ân cần từ bi, chúng ta được biết đạo lý thế sự.

Khi chúng ta nhìn thấy người đứng đầu của một nước, một tỉnh, một huyện hay vùng đất nào đó, liền có thể biết kiếp trước họ là người quy y Phật Pháp Tăng Tam bảo.

Khi nhìn thấy người giàu có, chúng ta biết họ trước đó họ là người quyên góp cúng bái Phật pháp tăng Tam bảo và quan tâm đến những mảnh đời bất hạnh.

Khi ta thấy người trường thọ, khỏe mạnh thì hiểu họ trước đó luôn tuân thủ lời răn dạy của giới luật.

Còn khi chúng ta nhìn thấy người có diện mạo đoan chính, thần sắc tươi sáng, lời nói hào sảng, nhiều người kính trọng, có thể hiểu họ đã chịu tất cả ủy khuất của đời người, nhưng vui vẻ đối mặt, không có bất cứ oán trách.

Đối với người có vẻ ngoài khoan thai ổn trọng, lời nói và hành động hợp với khuôn phép của người từng được độ pháp sẽ hiểu rõ họ là người có tấm lòng thanh tịnh, hướng tới điều tốt.

nhân quả có thật

Gặp người có trí tuệ, luôn có cái nhìn thấu tình đạt lý đối với mọi việc trên đời, có thể chỉ bảo người khác thay đổi bản thân hướng tới cái thiện, người đời khắc ghi trong lòng lời dạy của họ, liền biết người đó kiếp trước là người thấu triệt Kinh tàng, chăm chỉ học tập và thực hành giáo điều Phật pháp.

Đối diện với người có giọng nói rung động lòng người thì nhận ra rằng âm nhạc và giọng hát của người đó nhận được sự khen ngợi của Phật Pháp Tăng Tam bảo.

Khi thấy người luôn sạch sẽ, không bệnh tật thì hiểu rõ đó là người đó kiếp trước có tấm lòng hướng thiện.

Thấy nhân sĩ có vóc dáng cao lớn, chúng ta biết họ luôn kính cẩn lễ phép đối với thế nhân và thánh thần.

Tuy nhiên, những người có vóc dáng nhỏ bé thì kiếp trước luốn ngạo mạn, coi thường người khác.

Gặp người có tướng mạo xấu xí khó coi, liền biết kiếp trước đức hạnh của họ luôn không tốt, luôn giận dữ hận thù người khác.

Người ngu ngốc kiếp trước luôn không thích đọc sách thánh hiền.Đối với người cứng nhắc ngoan cố và không hiểu biết, kiếp trước chắc chắn không truyền bá những lời răn dạy của bậc thánh hiền.Mỗi khi nhìn thấy người có giọng nói khàn hoặc bị câm thì có thể hiểu người đó kiếp trước luôn phi báng gièm pha mang đến thị phi cho người khác.Khi thấy người làm nô tỳ, chúng ta biết rằng đây là hậu quả do kiếp trước họ vay tiền không trả.

Khi thấy người có vẻ ngoài hèn mọn thấp kém, là do kiếp trước không lễ bái trước Phật đà Quan thế âm Bồ tát và Tăng nhân.

Những người vừa đen vừa xấu kiếp trước luôn thích việc thổi tắt đèn dầu trước ban thờ Phật.

Người vừa điếc vừa mù kiếp trước không thích nghe bậc Thánh hiền giảng kinh.

Còn khi nhìn thấy người thường xuyên trần trụi, không che đậy, liền hiểu người đó kiếp trước mặc hở hang tùy tiện đi lại trước bảo tháp hoặc chùa chiền.

Chùa Đồng (Yên Tử, Quảng Ninh)

Lễ hội chính của Chùa Đồng là mùng 10 tháng Giêng hàng năm
Lễ hội chính của Chùa Đồng là mùng 10 tháng Giêng hàng năm

Chùa Đồng có tên gọi ban đầu là Thiên Trúc Tự, sở dĩ được gọi là chùa Đồng vì toàn bộ Chùa được làm bằng chất liệu đồng (theo lời sư trụ trì chùa Thích Thanh Quyết). Chùa tọa lạc ở đỉnh cao nhất dãy Yên Tử (1.068m). Chùa Đồng (Yên Tử) đã được Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam ghi nhận là ngôi chùa đồng lớn nhất và nằm ở độ cao nhất cả nước.

Đây cũng là ngôi chùa được xếp vào hàng độc đáo nhất trên thế giới, được ví như một “kỳ quan mới” tại khu danh thắng Yên Tử – hiện đang giữ rất nhiều kỷ lục mà không phải ai cũng biết.

Phía sau chùa là vực sâu với vách núi đá dựng đúng thuộc địa phận tỉnh Bắc Giang.

Lễ hội chính của Chùa Đồng là mùng 10 tháng Giêng hàng năm
Lễ hội chính của Chùa Đồng là mùng 10 tháng Giêng hàng năm

Cảnh quan và Kiến trúc Chùa Đồng

Khi thi công chùa Đồng mới, hai ngôi chùa cũ trên đã được chuyển về bảo quản tại Ban Quản lý di tích Yên Tử, và sau này được chuyển về Nhà trưng bày.

Địa thế chùa được dựng mang hình dáng một đóa sen khổng lồ, trong đó mỗi phiến đá là một cánh sen nở, chùa Đồng tọa lạc giữa đài sen. Địa thế nghiêng sang hai bên, phía đông triền đá dốc nghiêng, phía tây dốc đứng thành vực thẳm, lối đi chỉ vừa một bàn chân chênh vênh. Chùa quay về hướng Tây Nam, có bình đồ kiến trúc hình chữ “nhất”, một gian hai chái, cũng mang dáng như một bông sen nở.

Chùa Đồng mới do các nghệ nhân đúc đồng ở Ý Yên, Nam Định thực hiện theo mẫu chùa Dâu Keo (Thuận Thành, Bắc Ninh), nặng 70 tấn, dài 4,6m, rộng 3,6m và chiều cao từ cột nền tới mái là 3,35m. Các hoa văn, họa tiết trên đầu đao, bệ mái mang đậm phong cách đời Trần. Toàn bộ công trình gồm chùa, tượng Phật, chuông nặng hơn 70 tấn, được đúc bằng đồng nguyên chất nhập từ Australia, với khoảng hơn 4.000 cấu kiện, trong đó cấu kiện nặng nhất có trọng lượng 1,4 tấn, được lắp đặt trực tiếp trên đỉnh núi.

Hai bên chùa có giá treo chuông, khánh. Sau chùa là nhà tăng cho sư an trú lo Phật sự của chùa.

Do vị trí cheo leo, đỉnh núi quanh năm mây mờ che phủ nên chùa được thiết kế đặc biệt với những phương pháp tối ưu nhất để chống chịu với thời tiết khắc nghiệt.

Lên đỉnh Yên Sơn, đi trong mây không phân biệt đâu là trời, đâu là đất, đâu là người ở nơi hòa đồng giữa trời đất và người (thiên, địa, nhân). Từ đỉnh Yên Sơn nhìn về 4 hướng là cả vùng Đông Bắc như dải lụa xanh thẳm, cảnh đẹp lạ thường.

Lịch sử Chùa Đồng

Chùa Đồng – Yên Tử từng là nơi tu hành của Đức Vua – Phật Hoàng Trần Nhân Tông, con trưởng của vua Trần Thánh Tông (1258-1308). Nguyên khởi, chùa Đồng do một bà phi của chúa Trịnh dựng vào thời hậu Lê (thế kỷ 17). Chùa được đúc bằng đồng, ban đầu chỉ là một cái khám nhỏ, một người chui không lọt.

Đến năm Canh Thân 1740, đời vua Lê Cảnh Hưng, bão làm bật mái chùa, sau bị kẻ gian dỡ phần còn lại chỉ để lại dấu tích các hố cột chôn trên mỏm đá.

Vào mùa Đông 1930, bà Bùi Thị Mỹ từ chùa Long Hoa tái tạo chùa Đồng bằng bê tông cốt đồng trên một hòn đá vuông cao quá đầu người ở vị trí chùa Đồng cũ.

Đến năm 1993, ông Nguyễn Sơn Nam, một Việt kiều ở Mỹ, cùng các phật tử ở hải ngoại phát tâm đúc lại chùa mới kiến trúc hình chữ Đinh theo dáng một bông sen nở, ngự trên sập đồng chân quỳ dạ cá trổ hình hoa sen cách điệu, đặt ngay bên cạnh ngôi chùa Đồng bằng bê tông xây dựng đầu thế kỷ XX.

Theo tinh thần, hai chùa quy vào một khối, không để Phật tử và nhân dân phải thờ hai chùa Đồng cùng một lúc, thực hiện Quyết định số 3325/QĐ-UB ngày 29/8/2005 của UBND tỉnh Quảng Ninh Phê duyệt dự án đầu tư tôn tạo tại chùa Đồng tại khu di tích Yên Tử, TP Uông Bí. Ngày 03 tháng 6 năm 2006 dưới sự chủ trì của Tiến sĩ Phật học Đại Đức Thích Thanh Quyết (Thượng Tọa Thích Thanh Quyết) và Ban Quản lý Dự án chùa Đồng, bằng công đức thập phương trong và ngoài nước đã khởi lễ đúc chùa Đồng theo mẫu thiết kế của kiến trúc sư Trần Quốc Tuấn – Viện Bảo Tồn Di Tích. Chùa được khánh thành vào ngày 30 tháng 01 năm 2007, tọa lạc trên đỉnh non thiêng ở vị trí giữa hai ngôi chùa được xây dựng trước đây.

Hệ thống thờ cúng tại Chùa Đồng

Hệ thống tượng Phật trong chùa gồm 1 pho tượng Phật Thích Ca và 3 pho tượng Tam Tổ Trúc Lâm. Tượng có kích thước cao trung bình từ 0,45-0,87m tọa trên đài sen, trong đó 3 pho tượng Tổ được tạo tác lớn hơn. Tượng Thích Ca trong trang phục áo cà sa, tọa thiền với tư thế kiết già (thế liên hoa tọa). Tượng Đệ nhất Tổ (Trần Nhân Tông) mặc áo cà sa, tay úp lên hai đùi, tư thế ngồi “kiết già kiểu cát tường” hay còn gọi là “cát tường tọa” mắt nhìn xuống soi rọi nội tâm. Tượng Đệ nhị Tổ (Pháp Loa) và Đệ tam Tổ (Huyền Quang) mặc áo cà sa, tư thế ngồi kiết già không lộ bàn chân, tay kết “định ấn”. Toàn bộ 3 pho tượng Tổ ngự trên đài sen đặt trên bệ, trang trí hoa văn hình sen, cúc, thị, lá lật, hoa văn sóng nước.

Từ lâu, chùa Đồng không chỉ mang ý nghĩa về kiến trúc mà xét trên phương diện tín ngưỡng lâu đời, nó có ý nghĩa tâm linh đặc biệt. Chùa Đồng Yên Tử hoàn toàn khác biệt bất cứ công trình đúc kim loại nào trên thế giới, kể cả kiến trúc và điêu khắc mỹ thuật. Đó là vẻ đẹp vừa khỏe khoắn, vừa mềm mại, bay bổng.

Theo dân gian, chùa Đồng – Yên Tử là nơi con người có thể cầu viện được “sinh lực của vũ trụ” cho mọi mặt của cuộc đời. Dòng sinh lực vũ trụ này như mọi nguồn hạnh phúc chảy xuống mặt đất làm nảy nở sự sống. Dòng tôi chảy của sự thiêng liêng đó chỉ xảy ra ở những mảnh đất hội được những điều kiện nhất định. Chùa Đồng, nơi mà tín đồ, phật tử đặt niềm tin vào sự linh ứng mỗi lần đến thăm viếng để được nhập vào nguồn sinh khí vô biên đó.

Hàng năm, lễ hội ở chùa Đồng và Yên Tử nói chung diễn ra vào ngày mùng 10 tháng Giêng (Âm lịch) và 3 ngày đầu năm. Ngoài ra, vào những ngày sóc, vọng hay lễ Vu Lan, Phật đản, nhiều Phật tử cả nước cũng về đây hành hương lên chốn Trúc Lâm Yên Tử linh thiêng để tỏ lòng thành kính với Đức Phật từ bi.

Chầu Năm Suối Lân

Chầu Năm Suối Lân

Chầu Năm Suối Lân. Chầu Năm vốn là người Nùng, dưới thời Lê Trung Hưng ( còn có tài liệu ghi lại rằng, chầu là công chúa tìm nơi thanh vắng, đền cảnh Suối Lân thì chầu ở lại giúp dân), theo lệnh vua, chầu trấn giữ cửa rừng Suối Lân bên dòng sông Hóa, coi sóc khắp vùng sông Hóa.

Chầu Năm Suối Lân

Ở đó chầu không chỉ trấn giữ nơi sơn lâm mà còn giúp dân làm ăn, dạy dân đi rừng, làm nương. Sau này, chầu hóa tại đó và hiển linh giúp dân thuần phục mọi loài ác thú, trừ diệt sơn tinh, ma quái. Tương truyền vào những đêm thanh, chầu hiện hình cùng 12 cô hầu cận bẻ lái giữa dòng sông Hóa.

Thông thường thì Chầu Năm ít ngự đồng hơn là Chầu Lục, chầu chỉ thường ngự trong ngày tiệc vui hoặc những ai sát căn về chầu thì mới hay hầu. Tuy nhiên Chầu Năm cũng là vị chầu bà trên sơn trang nên có đôi khi người ta cũng thỉnh chầu về chứng tòa Sơn Trang. Chầu ngự về đồng thường mặc áo màu lam (bây giờ ở một số nơi, để tránh áo Chầu Năm trùng với áo Chầu Lục thì người ta thường dâng chầu áo xanh thiên thanh và coi đó là màu áo của dòng Suối Lân hoặc chầu cũng có thể mặc áo màu xanh như của Chầu Đệ Nhị), chầu khai cuông rồi múa mồi. Chầu Năm là vị chầu bà cũng có thể chứng cho con nhang đệ tử đội mâm giầu trình.

Đền thờ Chầu Năm Suối Lân được lập bên bờ con sông Hóa, qua cầu Sông Hóa 2 thuộc huyện Hữu Lũng, Lạng Sơn, tên là Đền Suối Lân, dòng suối Lân chảy cạnh đền quanh năm nước trong veo, xanh ngắt. Ngày tiệc chầu được tương truyền là ngày 20/5 (nguồn tài liệu chưa chắc chắn nên chỉ đưa ra để tham khảo).

Khi thỉnh chầu văn hay hát:

“Ai lên thăm cảnh Suối Lân

Đi qua sông Hóa vào đền Chầu Năm

[…] Giở trang tích cũ Lê Triều

Suối Lân Công Chúa mĩ miều diễm hương”

Hay để ca ngợi tài phép của chầu, văn hát rằng:

“Trăng thanh hổ báo chầu về

Lung linh màu sắc đua khoe trước đền

[…] Phép tiên biến hóa thần thông

Mẫu sai chầu trấn cửa rừng Suối Lân

Chầu thương dân canh khuya biến hiện

Áo chàm xanh thêu lượn nét hoa

Ban đêm gà gáy canh tà

Cất cao tiếng hú hiện ra giữa rừng

Hô thần chú bỗng dưng núi chuyển

Các cửa ngàn bặt tiếng muông kêu

Tà ma phách tán hồn xiêu

Các loài ác thú sợ đều ẩn thân

Để cho biết Suối Lân Công Chúa

Phép sơn trang Thái Tổ ban truyền

Phép tiên biến lá thành thuyền

Mười hai Thổ Mán đôi bên cầm chèo”

 

Nguồn: Hatvan.vn

Chầu Lục Cung Nương

Chầu Lục Cung Nương

Chầu Lục Cung Nương. Chầu Lục vốn là người Nùng (vì vậy nên có người còn gọi bà là Mế Lục Cung Nương), con nhà lệnh tộc trên vùng Chín Tư, Lạng Sơn cũng dưới thời Lê Trung Hưng.

Chầu Lục Cung Nương

Tương truyền, chầu vốn là tiên nữ trên Thiên Đình, chẳng may để rơi chén ngọc nên bị trích giáng xuống trần gian. Chầu giáng sinh vào nhà họ Trần (cha họ Trần, mẹ họ Hoàng) vốn là lệnh tộc trên miền Lạng Sơn (lại có tài liệu cho rằng Chầu Bà giáng sinh vào nhà họ Quách vào giờ Mão, ngày Mão, tháng Mão, năm Kỉ Mão, được đặt tên là Quách Thị Hồng Hoa), được 19 năm thì mãn hạn về chầu Đế Đình, nhưng vì chầu còn thương nhớ phụ mẫu nơi trần gian nên Ngọc Đế cho bà hiển thánh, cai giữ miền non ngàn sơn trang, nơi rừng Chín Tư, Hữu Lũng. Cũng như Chầu Năm, Chầu Lục hiển ứng giúp dân làm trồng trọt. Tuy anh linh nhưng bà cũng rất đành hanh, còn lưu truyền rằng, chầu thường cùng các bạn tiên nàng giả làm các cô gái người Nùng, bán hàng, ung dung cợt khách qua đường.

Chầu Lục cũng là một trong các vị chầu danh tiếng trên ngàn có lẽ bởi vì chầu rất hay bắt đồng. Cũng như Chầu Đệ Nhị, người ta cũng thường hay thỉnh Chầu Lục về ngự đồng. Đôi khi Chầu Lục lại là giá chầu về sang khăn cho đồng tân lính mới và chứng đàn Sơn Trang trong lễ mở phủ. Chầu Lục cũng có thể chứng mâm giầu trình. Khi ngự đồng, chầu mặc áo màu lam (hoặc màu chàm xanh), khai cuông rồi múa mồi.

Đền thờ Chầu Lục Cung Nương được lập tại thôn Chín Tư, xã Hòa Lạc, huyện Hữu Lũng tỉnh Lạng Sơn (tương truyền là nơi chầu hạ phàm và hiển thánh) được gọi là Đền Lũng hay Đền Chín Tư. Trong năm ngày tiệc Chầu Lục có hai ngày là ngày 10/5 âm lịch (có người nói đó là ngày đản sinh của chầu nhưng điều này cũng chưa chắc chắn) và ngày 20/9 âm lịch (có người cho đó là ngày hóa, có người lại cho rằng đó mới là ngày đản sinh của chầu chứ không phải là 10/5 âm lịch).

Trong văn hát sự tích của bà có đoạn như:

“Đêm đông xuống trần gian báo mộng

Hoàng Thị Nương tâm động bào thai

Mãn tuần chín tháng lẻ mười

Sinh ra Chầu Lục tốt tươi lạ thường”

Hay với sự tích theo một tài liệu khác cũng có bản văn hát rằng:

“Hữu Lũng châu cao sơn vị thủy

Chín Tư ngàn tú khí anh linh

Vốn xưa chầu ngự đế đình

[…] Vừa gặp buổi trang đài mở yến

Chầu Lục vào dâng tiến kim bôi

Trống rung chưa kịp dư hồi

Bỗng dưng gió cuốn xảy rơi chén vàng

Trên bệ ngọc vua cha phật ý

Nổi lôi đình hạ chỉ chiếu ban

Đem đày chầu xuống trần gian

Thiên Đình định nhật khải hoàn hồi tiên

[…] Vừa năm Kỉ Mão, tháng hai

Ngày Mão, giờ Mão trang đài nở hoa

Giáng vào họ Quách lương gia…”

Hay có những đoạn rất buồn khi nói về cảnh chầu mãn hạn quy tiên:

“Vẹn một bầu nước trong leo lẻo

Trách trăng già sao khéo vẩn vơ

Vô tình ép uổng lòng tơ

Khéo sinh con tạo bởi duyên cớ gì

Hạn đến kì đôi mươi tháng chín

Ba thu về xa lánh hồn nương”

Hoặc còn có nhiều đoạn rất hay như:

“Ai lên tới sơn lâm châu thổ

Hỏi thăm đền chầu ngự nơi nao

Chín Tư, Hữu Lũng mà vào

Trên đền chầu ngự thấp cao mấy tầng

[…] Anh linh lừng lẫy thượng ngàn

Đản tuần tháng chín Nam Bang khấu đầu

[…] Trần gian đừng có trớ trêu

Hái măng kiếm củi chầu đều qưở ngay

Giở về mới biết linh thay

Nón xanh hài sảo kêu ngay chầu về”

Nguồn: hatvan.vn

Triết lý Âm – Dương trong Phong Thủy

Âm – dương có mối liên hệ rất chặt chẽ với Phong Thủy. Nếu trong môi trường sống, âm – dương không cân bằng có thể mang lại những tác động tình cảm và vật chất ngoài ý muốn. Nhiều người than thờ là họ rất mệt mỏi, u uất, thiếu sinh khí. Nhìn chung, những người này đều thường xuyên ở trong không gian thiếu ánh sáng.

Ngược lại, những người sống trong những ngôi nhà tràn đây ánh nắng mặt trời cũng thấy không thoải mái trước cường độ ánh sáng mạnh. Không ngạc nhiên chút nào khi họ than phiền là họ hay bị đau đâu.

Nguyên lý âm dương trong phong thủy
Nguyên lý âm dương trong phong thủy

Phong Thủy phần lớn dựa vào những nguyên tắc thông thường, đơn giản và đã tồn tại lâu đời. Nếu căn phòng tối thì tăng thêm ánh sáng. Nếu phòng quá sáng thì lắp thêm mành, rèm cửa. Nếu phòng ngột ngạt, thì mờ cửa sổ. Nếu nóng quá hay lạnh quá, thì điều chỉnh lại máy điều hòa. Điều này khá đơn giản, nhưng cuộc sống không phải lúc nào cũng đơn giản như vậy. Phong thủy giúp chúng ta đối mặt và vượt qua những khó khăn ấy.

Liệu có khi nào có nam mà không có nữ? Có trái mà không có phải? Có nóng mà không có lạnh? Có ngày nhưng lại không có đêm? Hay có giận dữ mà không có vui vè?… Chắc chắn là không. Mặc dù cái này là mặt đối lập của cái kia, nhưng chúng lại phụ thuộc vào nhau để cùng tồn tại. Riêng biệt mà thống nhất, âm – dương mô tả sự tiến hóa của vạn vật.

Khái niệm âm – dương là nguyên lý đầu tiên trong Phong Thủy. Ban đầu, âm và dương mang ý nghĩa là phía bóng râm (âm) và phía có ánh náng mặt trời (dương) cùa một ngọn đồi – một ý tưởng được cho là của Lưu Công – một vị tiền bối Nhà Chu – khi ông đi tìm một vùng đất lành cho dân chúng cùa mình. Nhưng khoảng 5 thế kỳ sau, trong thời gian từ giữa tới cuối Nhà Chu (khoảng 770-481 TCN), âm dương trở thành biểu tượng của hai nguồn năng lượng cơ bản của khí. Âm được coi là nguyên lý mang tính nữ cùa tự nhiên, và do đó, được xem là bị động và yếu. Dương được cho là nguyên lý mang tính nam và là chủ động, mạnh.

Rõ ràng, nguyên lý âm dương là yếu tố nền tảng để hiểu và thực hành phong thủy. Nắm vững nguyên lý này, bạn sẽ thay đổi vĩnh viền cách bạn tương tác với mọi người, với môi trường sống/làm việc và với thê’ giới tự nhiên bên ngoài.

Âm: Nữ Tính

Nua-am-trong-vong-am-duong
Âm tượng trưng cho nguồn năng lượng của trái đất, co cụm lại. Âm cũng tượng trưng cho nguyên lý bị động trong tự nhiên, biểu thị qua bóng tối, sự lạnh giá, ẩm ướt. Trên bình diện con người, âm tượng trưng cho nữ tính và tính ỳ – không chịu thay đối.

Có thể bạn sẽ hỏi (đặc biệt nếu bạn là phụ nữ) liệu các tính chất có vẻ u ám này của âm là quan điểm của người Trung Quốc về phụ nữ? Không phải! Dù các đặc điếm của âm có vẻ hơi xúc phạm phụ nữ, nhưng nó không ám chi một cá nhân nào. Hãy chi nghĩ rẳng âm là cái tĩnh, cái bên trong.

Theo truyền thống, phụ nữ luôn ở nhà. Phụ nữ nhận tinh trùng (hướng nội) và bảo vệ bào thai bên trong. Như bạn sẽ sớm thấy, dương liên quan tới nam giới, sự hoạt động và tính hướng ngoại, cái bên ngoài. Thường nam giới tích cực hoạt động ở bên ngoài gia đình. Đàn ông phóng tinh ra ngoài.

Còn cái chấm tròn là cái gì? Đó hoàn toàn không phải là một cái chấm tròn đơn gián, mà đó là sự nhận thức, hiểu biết. Con mắt màu trắng nầm trong vùng đen cùa âm tượng trưng cho tiềm năng thay đổi. Không cái gì là âm tuyệt đối, cũng như không cái gì là dương tuyệt đối. Ví dụ: hết đêm chắc chắn sẽ chuyển sang ngày; cái chết và sự phân hủy sẽ mang lại một cuộc sống mới. Ngay cả tên tội phạm tàn ác nhất và kẻ keo kiệt nhất cũng mang trong mình dấu vết của sự lương thiện.

Dương: Nam Tính

nua-Duong-trong-vong-am-duong
Dương tượng trưng cho nguồn năng lượng của trời, sự mở rộng. Dương cũng tượng trưng cho nguyên lý tích cực của tự nhiên, biểu hiện dưới dạng ánh sáng, cái nóng, sự khô ráo. Trên bình diện con người, dương đại diện cho nam tính và mặt tích cực của những cảm xúc. Dương tượng trưng cho mảnh đất cùa sự sống, còn âm là địa hạt của cái chết. Các đặc điểm khác của dương được thế hiện trong hình trên.

Dương cũng mang khía cạnh của âm, đúng như thành ngữ “có thịnh thì ắt có suy”. Nếu mặt trời không mọc, chúng ta sẽ chết. Nếu sau chuỗi công việc quá tải và căng thẳng, cơ thể không được nghi ngơi chúng ta sẽ quị ngã vì kiệt sức.

Biểu tượng của Thái Cực: Các mặt đối lập và thống nhất

Biểu tượng thái cực minh họa sự tương tác không ngừng của âm và dương. Giống như hai mặt của một đồng xu, âm không bao giờ có thế tách khỏi dương. Âm và dương cùng nhau đại diện cho quy luật cùa tự nhiên: sự thay đối không ngừng, bất tận. Thời gian thay đổi, các mùa thay đổi, khí thay đổi, môi trường sống thay đổi; và ta thay đổi. Thực vậy, vũ trụ và vạn vật trong vũ trụ, từ lúc sinh ra cho tới lúc chết, đều “lắc lư” trong một vũ điệu tuyệt đẹp của hai nguồn năng lượng hòa quyện và kết nối với nhau.

Đường cong hình chữ S ngược chia/nối giữa âm và dương thể hiện một điều là không có cái gì tuyệt đối hoàn hảo, hay tuyệt đối cố định. Nói cách khác, cuộc sống không định hình bằng tư duy đen trắng rành mạch, cứng nhắc mà là những mảng xám khác nhau. Trong âm có mầm mống của dương, thể hiện bảng chấm tròn màu tráng. Trong dương có mầm mống của âm, thể hiện ở chấm tròn màu đen. Trên bầu trời ngày quang đãng nhất, bạn vẩn thấy một đám mây; trong đêm tối mịt mùng nhất, bạn vẫn thấy một ngôi sao. Vào ngày hạnh phúc nhất, vẫn thấp thoáng một nỗi buồn; trong những ngày sầu thám nhất vần lóe lên hy vọng.

Dù vũ trụ có phức tạp đến mức nào, vạn vật đều tuân theo quy luật âm – dương. Tìm ra sự cân bâng giữa âm và dương là điều tối quan trọng của Phong Thủy.

Cách chọn Đá Quý hợp Mệnh Cung

Cách chọn Đá Quý hợp Mệnh Cung

Dùng trang sức vật phẩm phong thủy không theo đúng màu sắc ngũ hành cho hợp với Mệnh Cung người đeo, sẽ đem lại những điều không may mắn cho người sử dụng.

Cách chọn Đá Quý hợp Mệnh Cung

Ngược lại, nếu đeo trang sức vật phẩm phong thủy có màu sắc phù hợp với Mệnh Cung người sử dụng, thì sẽ đem lại sức khỏe, may mắn, hưng vượng cho người đeo.

1. Người mệnh THỦY (mệnh cung: KHẢM) nên đeo đá màu gì?

Tốt nhất cho người mệnh Thủy là bạc và màu đá trắng. Vì các màu sắc trên theo quy định của ngũ hành là thuộc Kim, mà Kim sinh Thủy nên khi đeo bạc và đá màu trắng, người mệnh Thủy sẽ được tương sinh.

Tốt thứ nhì cho người mệnh Thủy là sự hòa hợp giữa người mệnh Thủy với màu sắc của viên đá. Họ nên dùng các màu đen, màu xám, màu xanh nước biển như saphiare, aquamarin, tactit…

Thứ ba, người mệnh Thủy khắc được Hỏa (Nước dập tắt được Lửa), tức là họ dùng được các màu mà họ chế ngự được như đỏ, hồng, cam, tím.

Tuyệt đối không nên dùng các màu đá vàng sậm, nâu đất, vì đó là màu thuộc hành Thổ. Chặn được nước lớn ở sông, ở biển tràn vào, người ta phải đắp đê điều bằng đất, đá, cát. Thổ sẽ chế ngự Thủy. Chính vì vậy, người mệnh Thủy không nên đeo đá có các màu thuộc Thổ, sẽ bất lợi cho họ.

2. Người mệnh HỎA (mệnh cung: LY) nên đeo đá màu gì?

Đá quý loại nào cũng tỏa ra năng lượng tốt cho người dùng. Nhưng tốt cho người mệnh Hỏa nhất phải là đá có màu thuộc hành Mộc, tức là xanh lá cây, xanh da trời. Vì gỗ khi cháy sẽ thành ngọn lửa, nghĩa là Mộc sẽ sinh Hỏa. Chính vì vậy, đá có màu xanh lá cây, xanh da trời là màu đá lý tương số 1 mà người mệnh Hỏa nên dùng.

Cũng như các mệnh khác, người mệnh Hỏa sẽ tốt nếu dùng đá quý có màu tương hợp, tức là cùng hành Hỏa với các màu đặc trưng của Hỏa là đỏ, hồng, cam, tím.

Còn nếu thích dùng đá màu trắng cũng được, vì mệnh Hỏa chế khắc được màu của viên đá, tức là Hỏa khắc được Kim. Nung kim loại chảy ra thành nước – điều đó chỉ có lửa mới làm được.

Không nên dùng đá màu đen, màu xám, màu xanh nước biển. Vì đó là màu của nước (Thủy). Nếu dùng sẽ gặp xui, vì Thủy – Hỏa giao đấu, phần thua sẽ thuộc về Hỏa, bởi nước sẽ dập tắt lửa.

3. Người mệnh MỘC (mệnh cung: CHẤN, TỐN) nên đeo đá màu gì?

Để người mệnh Mộc được khỏe mạnh, may mắn, tài lộc, phát đạt, thì việc chọn mua một viên đá hợp mệnh theo màu sắc ngũ hành là điều rất quan trọng.

Người mệnh mộc nên đeo đá quý như sau:

Để được tương sinh: Thủy dưỡng mộc. Màu đá tốt nhất dành cho người mệnh mộc là màu nước, bao gồm: đen, màu xám, màu xanh nước biển, xanh lam.

Để được tương hợp: Lưỡng mộc thành lâm. Có nhiều cây là có rừng. Hòa hợp với người mệnh Mộc chính là màu Mộc, gồm: tất cả màu xanh, như xanh lá cây, xanh da trời…

Để chế khắc được viên đá: Người mệnh Mộc chế được Thổ gồm các màu vàng sậm, nâu đất, gỗ hóa thạch. Như vậy đeo viên đá có màu Thổ, người mệnh Mộc được an toàn và không phải lo lắng.

Tuyệt đối không nên dùng các loại đá màu của Kim như trắng và bạc. Vì dao chặt được cây gỗ cho nên khi đeo trang sức với viên đá màu tượng trưng cho Kim sẽ không tốt cho người đeo. Nên tránh đá màu trắng cho người mệnh Mộc.

4. Người mệnh KIM (mệnh cung: CÀN, ĐOÀI) nên đeo đá màu gì?

Tốt nhất là được tương sinh: Kim là do Thổ sinh ra. Đất sinh ra vàng bạc nên dùng các màu thuộc thổ như vàng sậm, nâu đất, gỗ hóa thạch như mắt hổ.

Tốt thứ nhì là được hòa hợp: Hợp với mệnh Kim là Kim. Đó là trắng (bạc kim), vàng tươi (vàng trang sức) và bạc.

Thứ ba mới đến sự chế khắc: Kim sẽ chế khắc được mộc. Chủ thể là người mệnh Kim sẽ chế khắc được viên đá mình đeo có các gam màu xanh lá cây, xanh da trời.

Không nên dùng đá có màu thuộc hành Hỏa như đá đỏ, hồng, cam, tím. Vì Hỏa khắc Kim nên khi đeo đá có màu tượng trưng cho lửa sẽ gây bất lợi cho chủ nhân.

5. Người mệnh THỔ (mệnh cung: KHÔN, CẤN) nên đeo đá màu gì?

Khi mọi vật bị đốt cháy, sẽ thành tro, bụi, đất, cát. Vậy Hỏa sẽ sinh ra Thổ. Cho nên, người mệnh Thổ hãy dùng những viên đá quý có màu của Hỏa, sẽ được tương sinh. Đó là các màu: đỏ, hồng, cam, tím.

Có câu: “lưỡng Thổ thành sơn”. Nếu họ dùng đá có màu vàng sậm, nâu đất, sẽ rất tốt cho họ, vì người và đá cùng mệnh có sự tương hợp với nhau.

Đất đá chế ngự được nước. Người mệnh Thổ chế ngự được viên đá có màu của hành Thủy là đen, xám, xanh nước biển.

Không nên dùng đá có màu xanh lá cây, màu xanh da trời, vì đó là đá có màu cùa hành Mộc. Cây sống trên đất, hút hết sự màu mỡ của đất, khiến đất suy kiệt. Người mệnh Thổ nếu dùng đá có màu xanh lá cây, màu xanh da trời, sẽ bị suy yếu về sức khỏe, khó khăn về tài chính.

Nguồn: Blog Phong Thủy.

Phật Giáo quan niệm ra sao về cái chết ?

Mỗi con người nếu coi cái chết là vô thường sẽ có được đời sống bớt khổ đau

Cái chết luôn mang lại cho con người những tâm trạng khác nhau, đó có thể là lo âu, sợ hãi, day dứt, nhưng chỉ biết chắc rằng trước khi có chết thì cần phải có sự sống cái đã. Và nói cho cùng thì phạm trù chết – sống cũng chỉ là hai mặt của vấn đề, mà nếu như như con người thiếu đi cái nhìn toàn diện, chỉ nhìn một vấn đề thì hẳn là thiếu sót.
Mỗi con người nếu coi cái chết là vô thường sẽ có được đời sống bớt khổ đau

Phật giáo quan niệm ra sao về cái chết ? 

Trên dòng đời, chết cũng chỉ như một biến cố, như việc bạn đnag đi trên đường mà vấp ngã vậy. Phật giáo cho rằng cái chết chỉ như một sự nối tiếp và chuyển động bất tận, chỉ là một sự bắt đầu chứ không phải chấm dứt. Chính vì thế mà Đức Phật luôn muốn hướng con người đến suy nghĩ coi chết là sự vô thường, thì sẽ không bị những cảm xúc của nó chi phối.

Cái chết theo quan niệm phật giáo thì nó không phải sự đối nghịch với sự sống mà chỉ là ngược chiều của sự sinh. Nếu như sự sống là xuôi dòng thì chết là ngược dòng. Nó làm thành một chu kỳ ngược xuôi bất tận. Nhưng suy nghĩ cho cùng chết hay của con người hay những chúng sinh khác đều phụ thuộc vào sự xoay vòng của vũ trụ.

Chết là sự tan biến của những gì đã được hợp thành, là quá trình mà ngày từ khi được kết hợp từ cha và mẹ, nó đã hiện hữu, chỉ là bao giờ nó xảy ra. Nói như vậy để mỗi người có những hình dung đúng đắn về chết, đón nhận nó với tâm thế bình thường nhất. Chứ dừng để cái cảm xúc đau thương, sầu muộn làm chết đi tâm hồn mình.

Vì sau chúng ta hoảng loạn trước cái chết? 

Con người ai cũng sẽ có tâm lý lo sợ, hoảng loạn khi chết cận kề mình, hay đau khổ, sầu não khi chứng kiến người thân mình mất đi. Vì sao lại như vậy?  chỉ có thể trả lời rằng vì họ không thể xem chết là vô thường, là vì tâm lý sống xa rời thực tế nên khi chết tìm đến thì trở tay không kịp.

Không nghiễm nhiên mà Phật dạy mỗi người nên chuẩn bị cho cái chết của chính mình. Con người ta đâu ai muốn chết, nên họ đâu có lo cho cái chết của mình. Vì thế nên nó ập đến họ cho rằng đó là sóng gió, giông bão cuộc đời, là sự bất công của cuộc đời đối với họ. Rồi từ đó tâm thế bất an, chán trường và không còn nghị lực bước tiếp trên cuộc đời đang dang dở. Ấy vậy nên mỗi người hãy luôn có được cái nhìn đúng đắn về chết, nên biết mình cần làm gì cho mình và người đã mất để cả hai thế giới đều được thanh thản, yên vui.

Vong Hài Nhi Đỏ

vong hài nhi

Người chết trong trạng thái nào thì vong sẽ tồn tại trong trạng thái đó, dù là hài nhi, bé đỏ hay thiếu nhi, thanh niên, người già…hình dạng đó cố định mãi theo thời gian, chỉ có tư tưởng, suy nghĩ của vong là thay đổi. Với thời gian 10 năm dương trần bằng 1 năm cõi âm, tư duy của vong linh luôn vận động và phát triển không ngừng.

Bởi vậy những người bị chết nát thây, nát chân tay hoặc đầu mặt, treo cổ tự tử…cơ thể biến dạng thảm hại trước khi chết thì thân nhân cần phải biết việc hoàn thân hoàn cốt cho vong linh là rất quan trọng, vì việc trả lại hình hài nguyên trạng ban đầu như khi chưa từng xảy ra tai họa lớn đối với vong linh khi hồn còn trên dương thế giúp ích rất lớn cho vong trong quá trình tồn tại trong âm giới, để tham gia tu học hoặc làm những việc cần thiết khác được kết quả.

vong hài nhi

Những người bị đau ốm nặng như ung thư, tật nguyền, người uống thuốc độc tự tử…sau khi mất đi thân nhân cũng phải biết tìm cách giải bệnh lưu thân cho vong linh, vì nơi cõi âm không phải bệnh trạng nào cũng được chữa trị.

Vong tồn tại trong thể hình cầu phát sáng khi di chuyển.

Từ độ tuổi hài nhi đỏ cho đến 13 tuổi thường là hình cầu nhỏ phát sáng trắng.

Từ độ tuổi 14 đến 20 tuổi thường là hình cầu màu đen

Từ độ tuổi 21 đến 40 tuổi thường là hình cầu màu vàng

Từ độ tuổi 41 trở lên thường là hình cầu lớn và màu tím

Dạng khối cầu vong linh di chuyển trong ánh sáng, trong không khí, đi theo suy nghĩ của người mong cầu hoặc theo suy nghĩ của chính vong linh. Chẳng hạn nếu vong linh nghĩ đến việc trở về nhà (nơi sống của vong khi hồn còn tại thế) thì lập tức sẽ có mặt tại nơi đó.

Khi có sự linh ứng thì vong xuất hiện rất nhanh chóng, nếu làm một phép so sánh thì chỉ trong vòng 3 bước chân của người cõi trần, vong linh đã có mặt theo tâm nguyện mong cầu của thân nhân (tức là khoảng 2-3 giây) và vong gọi đó là thần thông ba bước.

Trở lại câu chuyện hài nhi đỏ, mặc dù khi chết như trong trạng thái nạo, hút, phá thai bằng những biện pháp cực đoan, nhưng vong vẫn phát triển tư duy theo năm tháng. Ví dụ sau 40 năm (thời gian cõi trần) thì hài nhi đỏ giống như đứa trẻ đã 4 tuổi (thời gian cõi âm). Những vong hài nhi đỏ nếu không được cha mẹ quan tâm (cúng lễ) thì rất oán giận và hay làm tổn thương cha mẹ bằng các chứng bệnh tật, ốm đau.

Bởi vậy những người mẹ có phá bỏ thai (từ độ tuổi có tim thai) mà trải qua thời gian đang mạnh khỏe bỗng nhiên trở nên hay đau yếu lắm bệnh tật thì điều đầu tiên phải nghĩ tới là vong hài nhi đang oán trách, do vậy phải biết con cái mà mình đã bỏ thuộc vào độ tuổi nào để biết cách cúng lễ cho chúng áo quần, đồ ăn thức uống phù hợp thì sẽ khỏi bệnh.

Với những người mẹ, người cha bị vong hài nhi oán giận như thế cũng rất dễ dàng giao lưu với vong con mình trong một số hoàn cảnh và điều kiện quy định.

Bài viết mới