Trang chủ Blog Trang 35

5 kiểu bàn tay của người có số giàu sang

Nếu bàn tay bạn có những đặc điểm sau, chắc chắn bạn sẽ có số giàu sang, đây là cách để bạn có thể biết được tương lai phú quý của mình hoặc người khác rất đơn giản.

1. Lòng bàn tay hồng hào

Những bàn tay hồng hào thường là những người có phúc khí. Và thường không phải lo nghĩ về chuyện tiền nong, công danh, sự nghiệp vì thường có quý nhân phù trợ.

2. Chỉ tay rõ nét, không lộn xộn

Đường chỉ tay rất quan trọng, nó thường thể hiện trình độ trí tuệ, công danh, sự nghiệp cũng như số mệnh của một người. Những người có đường chỉ tay rõ nét, không lôn xộn thường là những người thông minh, có cuộc sống suôn sẻ. Đặc biệt, những người này luôn có cách làm việc khoa học. Chính vì thế, họ thích hợp với các vị trí lãnh đạo.

3. 5 ngón tay sát nhau, gọn gàng cân đối

Những người có đôi bàn tay hồng hào, thêm vào đó 5 ngón tay khi chụm lại không bị hở thì đều là những người giỏi quản lý tiền bạc, biết chi tiêu, làm việc cẩn thận, có kế hoạch, biết nhìn xa và không bao giờ tiêu tiền một cách mù quáng.

21351696888_21d63759b2_o

Người có 5 ngón tay dài ngắn đâu ra đấy là người làm việc chu đáo có trình tự, vì thế công việc và cuộc sống đều được thu xếp khéo léo, không gặp cảnh bữa no bữa đói.

4. Móng tay vuông, ngón tay hình ống trúc

Móng tay con trai phải thẳng, hình vuông và hình bầu dục là tốt nhất. Móng tay con gái phải hơi nhọn, hình chữ nhật thẳng hơi nhọn đầu là tốt nhất, nếu thiên về hình tròn thì thuộc mệnh vất vả, cuộc sống gặp nhiều khó khăn. Ngón tay phải giống như ống trúc, tròn đẹp và thanh mảnh. Nếu ngón tay gầy guộc giống như chân gà thì là tướng tay lộ tài, không có tiền và cũng không giữ được tiền.

5. Lòng bàn tay vuông, thịt dày và mềm

Lòng bàn tay vuông vức, có thịt, bốn phía xung quanh hơi nổi lên, làn da mềm mại mượt mà, khi nắm tay có cảm giác thịt mềm mà không xương xẩu – những người có đặc điểm này đại đa số là người giàu có, tiền cả đời không thiếu.

Bí ẩn loài ma “chết trôi” trong văn hóa Nhật

Bí ẩn – Đây là một trong những linh hồn ma quỷ khiến người dân Nhật Bản vô cùng khiếp hãi…Funayūrei là một loài ma quỷ kì lạ trong văn hóa Nhật Bản, nó không chỉ đơn giản tồn tại trong các câu chuyện dân gian mà còn xuất hiện trong những giai đoạn lịch sử khác nhau.

1

Người Nhật Bản cho rằng Funayūrei là những linh hồn của những người chết đuối trong vụ đắm tàu. Vì quá oan ức nên họ quyết ở lại nhân gian với mục đích tạo ra nhiều người chết như mình.

Funayūrei ở mỗi địa phương lại có cách mô tả khác nhau. Một số vùng mô tả Funayūrei là những bóng ma lướt trên mặt biển, một số nơi khác thì tin Funayūrei chính là thủy thủ trên một chiếc tàu ma hay có khu vực thì nói Funayūrei như ma quỷ ở trên sông hay đầm lầy.

Theo dân gian, Funayūrei thường xuất hiện trong đêm trăng tròn hay vào ngày mưa gió bão bùng mang theo tiếng kêu ai oán và những ánh sáng kì lạ. Lại gần và hỏi mượn thủy thủ đoàn một chiếc thùng múc nước là cách phổ biến nhất mà Funayūrei sử dụng để làm đắm các con thuyền.

2

Nếu thủy thủ đoàn dại dột ném chiếc thùng cho Funayūrei, chúng sẽ múc nước và đổ đầy lên chiếc tàu tội nghiệp với tốc độ kinh hoàng khiến chiếc thuyền chìm xuống đáy biển sâu. Để thoát khỏi sự tấn công ghê rợn này của Funayūrei, ngư dân Nhật truyền tai nhau cách ném nắm cơm xuống biển hoặc đưa cho Funayūrei một cái thùng không đáy.

Một số địa phương còn mô tả Funayūrei như những ma quỷ vô cùng khôn ngoan. Vào các buổi tối nhiều sương mù, Funayūrei tìm cách lái những con tàu đâm vào vách đá, hoặc không, tự chúng biến thành một chiếc thuyền lao về phía thuyền của nạn nhân. Những người yếu tim sẽ giật mình, cố gắng tránh nhưng lại vô tình lao vào một rạn san hô nguy hiểm.

Ngoài ra, trong một số tài liệu đề cập, Funayūrei đốt lửa trên vùng biển nhiều đá ngầm để gây hiểu lầm cho các con thuyền. Các ngư dân sẽ nhầm tưởng phía trước là đất liền và lái thuyền đi vào vùng biển nguy hiểm đó.

Người dân Nhật Bản rất sợ con ma này vì mức độ hung hãn của nó. Họ cầu xin bọn ma ác độc này bỏ qua hoặc tránh chúng bằng những tục lệ. Ở một số vùng, ngư dân quan niệm chính sương mù là dấu hiệu của Funayūre, cho nên những ngày quá mịt mù họ sẽ ở nhà, hay thay đổi lộ trình theo hướng an toàn hơn.

Nếu đang trên biển khơi mà gặp thời tiết xấu, các ngư dân sẽ thắp hương, làm lễ, ném xuống biển gạo cúng, tiền giấy… để “hối lộ” các Funayūrei. Mỗi vùng, người ta còn có thêm những quy định về lễ vật ném xuống biển cho Funayūrei. Ở tỉnh Kochi, lễ vật sẽ là tàn hương và 49 chiếc bánh gạo, những nơi khác là đậu, tại Nagasaki là thảm dệt, tro và củi đốt.

Funayūrei không chỉ xuất hiện trong các câu chuyện dân gian, mà còn được ghi chép trong các tài liệu lịch sử khiến người nghe phải rùng mình.

3

Vào năm 1185, sau trận thủy chiến Dan-No-Ura khiến gia tộc Taira bị tận diệt, những người đi qua vịnh Shimonoseki lại nghe thấy những âm thanh ai oán. Ngư dân vô cùng sợ hãi và không dám đi qua vùng biển này hay nếu có đi cũng mang theo rất nhiều lễ vật trên thuyền. Sự hỗn loạn chỉ chấm dứt khi xuất hiện một nhà sư dùng phép để siêu thoát cho các linh hồn binh sĩ trên vịnh Shimonoseki.

Đến năm 1954, một vụ tai nạn hàng hải nghiêm trọng đã xảy ra với con tàu Toya Maru. Nhiều vết hình bàn tay lạ trên cánh quạt của con thuyền gặp nạn đã được phát hiện làm dấy lên những nghi vấn về việc các nạn nhân trong vụ tai nạn đã biến thành Funayūrei và cào móng vuốt vào cánh quạt. Một thời gian ngắn sau ở Hokkaido xuất hiện tin đồn, vào lúc nửa đêm, một phụ nữ xuất hiện bên bờ biển, toàn thân ẩm ướt và miệng luôn lầm bầm chữ “Toya Maru”.

Dù thế nào đi chăng nữa, bí ẩn về các sinh vật được cho là “hồn ma” này vẫn còn bỏ ngỏ.

Nhân quả báo ứng: Nợ tiền đền tiền, nợ mạng đền mạng

Trên thế gian này không thể có việc cố ý chiếm đoạt lợi ích của người khác, “nợ tiền đền tiền, nợ mạng đền mạng” tuyệt đối không có lý để trốn thoát.

cuoc-song-cong-bang

Xưa có một người làm việc trong cung hoàng tử tên là Đông Ngạc Lạc được phái đến vùng Mã Nạp Tư, thuộc quyền cai quản của nước Ô Lỗ Mộc Tề (ngày nay là Ürümqi – thủ phủ khu tự trị Tân Cương).

Anh ta quyết định đi vào ban đêm để tránh cái nóng oi bức. Giữa đường đến Ô Lỗ Mộc Tề, anh nằm nghỉ một chút cạnh một gốc cây. Đang thiu thiu ngủ thì có một người đàn ông đến gặp anh, tự giới thiệu mình là Lưu Thanh, cấp dưới của Trần Trúc Sơn. Sau một hồi lâu nói chuyện, Lưu Thanh có một thỉnh cầu: “Anh làm ơn có thể chuyển lời nhắn tới người đầy tớ tên Hỉ Nhi ở phủ quan Trần Trúc Sơn là trả tôi 300 đồng vì tôi đang trong cảnh túng thiếu”.

Ngày hôm sau khi tới nơi, Đông Ngạc Lạc thấy Hỉ Nhi và chuyển lời nhắn tới anh ta. Hỉ Nhi đổ mồ hôi đầm đìa và khuôn mặt đầy nét sợ hãi. Đông Ngạc Lạc thắc mắc và hỏi anh ta có chuyện gì xảy ra. Hỉ Nhi đáp: “Lưu Thanh đã chết vì bệnh từ lâu rồi”.

Chuyện là Trần Trúc Sơn thấy Lưu Thanh làm việc chăm chỉ và thận trọng khi còn sống nên đã ban thưởng 300 đồng cho anh ta sau khi chết, sau đó ông nhờ Hỉ Nhi chuẩn bị tiền giấy và cúng tế Lưu Thanh để tỏ lòng kính trọng. Hỉ Nhi biết rằng Lưu Thanh không có họ hàng thân thích để cúng viếng nên đã biển thủ tiền bạc, nghĩ rằng sẽ không ai phát hiện ra. Nhưng giờ đây, Hỉ Nhi bị một hồn ma yêu cầu trả nợ.

Trần Trúc Sơn không bao giờ tin vào chuyện nhân quả cho tới khi nghe tin này. Ông nói trong sự sợ hãi: “Những gì Lưu Thanh nói không thể là dối trá và nó hoàn toàn là sự thật. Tôi từng tin rằng người ta sợ bị bắt khi làm điều xấu nên chỉ làm nếu không ai phát hiện ra. Tới bây giờ tôi mới biết việc cho rằng ma quỷ không tồn tại là sai lầm. Với những ai đã làm điều xấu, thật lo lắng cho những ai làm điều xấu”.

Có một nguyên lý bất hủ rằng: “Nợ tiền đền tiền, nợ mạng đền mạng”. Chỉ có một cách duy nhất để những ai đã phạm phải điều xấu thoát khỏi sự trừng phạt, đó là hối cải.

10 điều thiện xuất phát từ tâm

Những điều thiện xuất phát từ tâm mà chúng ta nên thực hiện để tạo nghiệp tối cho bản thân và gia đình giúp cho bạn và người thân có được hạnh phúc hoàn hảo trong cuộc sống.

tam01. Đối với chúng sanh khởi lòng đại từ, không làm tổn hại

02. Đối với chúng sanh khởi lòng đại bi, không làm bất nảo

03. Đối với chánh Pháp của Phật khởi lòng hộ trì, không tiết thân mạng

04. Với tất cả Pháp sanh lòng thắng nhẩn, không chấp trước

05. Tâm an vui trong sạch, tôn trọng, không tham lợi dưởng cúng dường

06. Tâm cầu chủng trí Phật, trong tất cả các thời không xao lảng

07. Đối với tất cả chúng sanh hằng tôn trọng, cung kính, không khinh rẻ là thấp hèn

08. Không xai đấm thế luận, đối với phần Bồ Đề sanh lòng quyết định

09. Tâm thanh tịnh tu các căn lành, không hề tạp nhiễm

10. Đối với các Đức Như Lai xả lìa các tướng, khởi lòng tùy niệm.

Xem tướng trán luận đoán số mệnh

Trên khuôn mặt con người ngoài các bộ phận quan trọng như mắt, mũi, miệng… thì còn có một bộ phận quan trọng không thể bỏ qua đó là trán. Qua việc xem tướng trán cũng có thể đoán biết được vận số mệnh của một người.

1 – Xem tướng trán vuông

Nếu trán có điểm điểm vuông vức là đặc điểm bề ngoài của sự coi trọng các yêu tố thực tiễn. Xem tướng trán vuông cạnh mà cao rộng là đặc tính cho thấy tinh thần thực tiển và có khả năng cao trong việc thực hiện các quan niệm của mình. Phần lớn các nhà khoa học gia, kinh tế gia hay thực nghiệp gia đều là những người có loại trán kể trên.

2 – Xem tướng trán rộng

Nếu bề ngang mà rộng, phẳng, có bề cao trung bình sẽ biểu thị cho đặc tính bị động của đường trí tuệ. Người nào có trán rộng mà lại thấp thì theo xem tử vi trọn đời đó là người có trí nhớ rất dai, họ có khả năng ghi nhận tới các sự kiện cụ thể một cách rất mạn. Tuy nhiên họ có nhược điểm là óc phân đoán không hoàn hảo. Theo xem tướng trán thấy rằng họ chỉ suy luận và phán đoán một cách rất cụ thể và thụ động.

Trí tưởng tượng của họ chỉ lặp đi lặp lại các hoàn cảnh đã trải qua chứ họ không kết hợp được để sáng tạo ra được những hình ảnh mới mẻ. Nói một cách tổng quát nhất, đối với những người có trán trung bình hoặc là hơi thiếu bề cao, mà lại rất rộng về bề ngang thì có thể đưa ra dự đoán rằng người đó có khả năng để phát triển kiến thức về chiều rộng thế nhưng họ lại không đủ khả năng phát tiển về chiều sâu .

3 – Xem tướng trán cao :

Nếu trán chỉ có bề cao mà bề ngang xấp xỉ ở mức trung bình thì đây là đặc điểm của những người có sự phát tiển của bộ óc phán đoán, ở họ có khả năng tập trung tư tưởng dễ và có khả năng sáng tạo cao (óc tưởng tượng khá phong phú).
Ngược lại, theo xem tướng trán nếu người mà trán vừa hẹp, vừa thấp là những người có trí tuệ bị rối hạn tới mức tối đa. Mọi khả năng của con người như quan sát, lĩnh hội và phán đoán đều ở mức rất thấp thường là dưới trung bình. Các nhận xét của họ đều hoàn toàn dựa vào các sự quan sát của nhãn tiền về các sự vật cụ thể hữu hình như việc xem ngày tốt xấu, xem tuổi…
Ngoài 2 đặc điểm nổi bật như: cao và rộng thì khi xem tướng trán còn có thể có một trong các đặc điểm sau đây tùy thuộc vào cách phối trí của chân tóc.

21548300761_6a6940f453_o

4 – Xem tướng trán có góc tròn :

Nếu hai góc trên của trán mà nảy nở và không có tóc để tạo thành hai góc tròn khá rộng khiến cho phần trán tiếp giáp với chân tóc trông giống như chữ M. Theo xem tướng trán thấy rằng loại Trán này nếu cao rộng được coi là đặc điểm của những người có khả năng văn học, nghệ thuật thiên bẩm. Đối với các chuyện liên quan đến vật chất thường ngày những người có Trán như trên thường có ý coi rẻ nên họ không thích ứng với các công việc mang tính thực dụng.

Phật và ma quỷ

Có một họa sĩ rất nổi tiếng, ông ta muốn vẽ tranh Phật và ma quỷ, nhưng mà ông ta không tìm thấy trong thực tế hình mẫu của hai nhân vật này. Trong đầu ông ta nghĩ thế nào cũng không thể tưởng tượng ra hình dạng của Phật và ma quỷ, cho nên rất sốt ruột lo lắng.

Thế rồi có một cơ hội rất vô tình, anh ta đã đi chùa bái lễ, trong lúc đó đã vô tình phát hiện ra một vị hòa thượng, các loại khí chất trên thân thể vị hòa thượng kia đã hấp dẫn vị họa sĩ một cách sâu sắc, thế là anh ta liền đi tìm vị hòa thượng đó, nguyện ý trả cho vị hòa thượng này một số tiền lớn, với điều kiện là vị hòa thượng sẽ dành một ngày làm mẫu để họa sĩ kia vẽ. Sau này, tác phẩm của vị họa sĩ hoàn thành đã gây ra chấn động rất lớn tại địa phương. Họa sĩ nói: “Đó là bức tranh mà tôi hài lòng nhất, bởi vì vị hòa thượng làm mẫu cho tôi vẽ kia khiến tôi nghĩ rằng nhất định ông chính là một vị phật, những khí chất thanh tịnh và thư thái ông mang trên mình có thể gây cảm động đến mỗi người”.

Vị họa sĩ cuối cùng đã thực hiện lời hứa của mình, trả cho vị hòa thượng kia rất nhiều tiền. Cũng bởi vì bức tranh này, mọi người đã không gọi ông ta là họa sĩ nữa mà gọi là “Họa Thánh”. Một thời gian ngắn sau, họa sĩ chuẩn bị bắt tay vào vẽ ma quỷ, nhưng điều này lại trở thành một vấn đề khó khăn cho ông, đi đâu mà tìm được hình dáng của ma quỷ đây? Ông ta tìm hỏi qua rất nhiều địa phương, tìm rất nhiều người hung ác bên ngoài, nhưng không có ai thỏa mãn cả. Cuối cùng, ông ta tìm đến một nhà tù, vị họa sĩ cực kỳ vui mừng, bởi vì thực sự tìm một người giống ma quỷ quả là quá khó khăn. Thời điểm mà ông họa sĩ đối mặt với tên phạm nhân kia, tên phạm nhân đã ở ngay trước mặt ông ta mà khóc rống lên. Vị họa sĩ thấy vô cùng kỳ lạ, bèn hỏi tên phạm nhân kia có chuyện quan trọng gì vậy? Tên phạm nhân kia nói: “Tại sao ông lần trước vẽ Phật cũng tìm tôi mà lần này vẽ ma quỷ cũng lại tìm tôi?”.

Vị họa sĩ bị chấn động, ông nhìn tên phạm nhân một cách cẩn thận rồi nói: “Tại sao lại có thể thế được? Lúc tôi vẽ Phật tôi tìm người kia có khí chất phi phàm, còn ngươi thoạt nhìn đã thấy ngay là hình tượng ma quỷ rồi, tại sao lại là cùng một người được? Thật là quá kỳ lạ! Quả thực là khiến cho không ai có thể lý giải nổi”.

Tên phạm nhân kia đau buồn nói: “Chính là ông đã biến tôi từ Phật thành ma quỷ”. Vị họa sĩ nói: “Ngươi tại sao lại nói như thế? Ta không có làm gì ngươi cả”.

21125541920_5878c3066d_o

Tên phạm nhân nói: “Từ sau khi ông trả cho tôi tiền, tôi đã ăn tiêu đàng điếm, đi tìm mua vui, mặc sức tiêu xài. Sau này khi đã tiêu hết tiền, mà tôi lại quen với cuộc sống như vậy rồi, dục vọng đã khởi lên mà không thể vãn hồi được, thế là tôi đi cướp đoạt tiền của người khác, còn cả giết người nữa, chỉ cần có thể kiếm được tiền, việc xấu thế nào tôi cũng có thể làm, kết quả là trở thành như bộ dạng của ngày hôm nay”.

Vị họa sĩ nghe tên phạm nhân kia nói xong, vô cùng bùi ngùi, ông cảm thấy sợ hãi khi mà nhân tính chỉ vì dục vọng lại có thể chuyển biến nhanh đến như vậy, con người là yếu ớt như thế. Thế là ông đau đớn mà đem bút vẽ quẳng đi, từ đó về sau không bao giờ vẽ tranh nữa.

Vị thiền sư kể xong mấy câu chuyện, liền nhắm mắt lại không nói gì, nhưng người hỏi kia đã từ mấy câu chuyện mà có được giải đáp. Hóa ra cái đáng sợ nhất trên đời này chính là dục vọng của con người, dục vọng của con người càng nhiều, thì càng thấy chưa đủ, sẽ càng thấy không sung sướng vui vẻ và sẽ càng thấy phiền não. Cho nên vị thiền sư nói cho chúng ta biết:

Tiền như gông xiềng, tham lam là phần mộ, truy danh trục lợi cuối cùng cũng chỉ là công dã tràng, chỉ có tẩy tịnh đi đủ loại dục vọng trong lòng, buông bỏ lòng tham, quay trở về với bản tính thật thà lương thiện, mới có thể khám phá ra rằng: “mọi vinh hoa phú quý trong thế gian này chỉ như mây khói thoảng qua, suy cho cùng chúng đều là những thứ vô thường”. Có như thế mới có thể tận hưởng được sự khoan khoái vui sướng vô tận của cuộc đời.

Lời Phật dạy làm thay đổi cuộc đời

Cùng ngẫm những lời phật dạy sau sẽ làm thay đổi cuộc đời bạn.

1. Yêu quý hết thảy muôn loài

“Hận thù không thể hóa giải bởi hận thù mà bằng tình yêu; đây là chân lý muôn đời.”

2. Con không là những gì con nói mà là những gì con làm.

“Một người không thể gọi là khôn ngoan vì anh ta biết nói hay; nhưng nếu anh ta có bình an, tình yêu thương, và sự dũng cảm thì anh ta mới thật sự được gọi là khôn ngoan.”

“Một con chó tốt không phải bởi vì nó sủa giỏi. Một người tốt không phải bởi vì anh ta nói hay.”

3. Bí quyết để có sức khỏe tốt chính là an trú trong hiện tại

“Bí quyết để có sức khỏe cho cả tinh thần lẫn thể xác không phải là hờn trách quá khứ hay lo sợ về tương lai, mà là sống trong giây phút hiện tại một cách khôn ngoan và nghiêm túc.”

4. Ai biết nhìn vào trong tự thân mình thì người đó tỉnh thức

“Đạo không nằm trên bầu trời. Đạo nằm trong tim.”

5. Lời nói có sức mạnh vừa có thể gây tổn thương, vừa có thể trị lành

“Lời nói có sức mạnh vừa phá hủy, vừa hàn gắn. Khi lời nói vừa chân thành, vừa hòa ái, chúng có thể thay đổi cả thế giới.”

6. Hãy cho đi và con sẽ còn mãi

“Con chỉ mất khi con còn nắm giữ.”

7. Không ai có thể đi giúp ta

“Không ai có thể cứu ta ngoại trừ chính ta. Không ai có thể và không ai sẽ làm thế. Chúng ta phải đi trên con đường của chính mình.”

8. Niềm hạnh phúc không bao giờ cạn kiệt khi ta biết sẻ chia

“Hàng ngàn ngọn nến có thể được thắp sáng bởi một ngọn nến và cuộc đời của ngọn nến ấy không hề bị tàn lụi. Hạnh phúc không bao giờ cạn đi khi ta biết sẻ chia.”

9. Hòa nhã với tất cả

“Hãy kiên trì nhường nhịn người trẻ, từ ái với người già, khuyến khích những ai đang cố gắng, khoan dung độ lượng với những kẻ làm sai và nhu nhược. Có khi trong đời, con sẽ lâm vào những hoàn cảnh ấy.”

“Từ bi với mọi chúng sinh, không phân biệt giàu nghèo; mỗi chúng sinh có những nỗi khổ riêng. Một số chịu khổ quá nhiều, số còn lại chịu khổ quá ít.”

“Hãy chỉ dạy ba sự thật này cho chúng sinh: một trái tim nồng hậu, lời nói hòa ái, một cuộc đời phụng sự và từ bi là những thứ sẽ làm nhân loại đổi mới.’

10. Đừng tin vào mọi thứ con được dạy phải tin

“Đừng dễ dàng tin vào bất kì điều gì bởi vì con đã nghe thấy. Đừng dễ dàng tin vào bất kì điều gì bởi vì nó đã được nhiều người truyền miệng. Đừng dễ dàng tin vào điều gì bởi vì nó được ghi chép trong những cuốn sách giáo điều. Đừng dễ dàng tin tưởng điều gì vì chúng là lời của những bậc tiền bối và của Thầy con.

22-cau-phat-hoc-

Đừng dễ dàng tin vào truyền thống bởi vì nó đã được trao truyền trong rất nhiều thế hệ. Nhưng sau những gì quan sát và phân tích, khi con thấy chúng phù hợp với lí lẽ, đưa đến điều tốt lành, đem lợi ích cho chúng sinh, thì hãy chấp nhận và sống vì nó.”

11. Con nghĩ cái gì, con là cái đó

“Cái chúng ta đang là là kết quả của những gì ta nghĩ. Cái chúng ta nghĩ nằm trong niệm và chính cái ta nghĩ làm nên niệm. Nếu một người nói và hành động bởi một niệm ác thì nỗi khổ bám theo anh ấy như cái bánh xe bị con thú kéo đi. Nếu một người nói và hành động với một niệm lành thì hạnh phúc sẽ đến với anh ấy như bóng với hình, chẳng bao giờ tách rời.”

12. Thả cho nó bay

“Bí quyết của toàn bộ đời sống là không có gì để sợ. Đừng bao giờ lo sợ con sẽ trở thành ai trong tương lai, con không lệ thuộc vào ai cả. Chỉ có khoảnh khắc con rũ bỏ mọi thứ con mới được tự do.”

13. Cây kim trong bọc có ngày lòi ra

“Có ba thứ không thể nào che giấu được, đó là mặt trời, mặt trăng, và sự thật.”

14. Hãy làm chủ suy nghĩ nếu không nó sẽ làm chủ con.

“Để có được một sức khỏe tốt, để có thể đem hạnh phúc cho gia đình nào đó, để đem bình an cho tất cả, thì người đó đầu tiên phải có nghị lực và phải làm chủ được suy nghĩ của mình. Nếu một người có thể làm chủ suy nghĩ, người đó có thể tìm thấy con đường giác ngộ; trí tuệ và đức hạnh sẽ tự nhiên hiển lộ nơi người ấy.”

“Chính suy nghĩ của con người chiêu cảm ra nghiệp xấu, chứ không phải kẻ thù hay oan gia của họ.”

15. Đoàn kết là sống; chia rẽ là chết

“Không gì ghê gớm hơn thói quen hay nghi hoặc. Nghi hoặc chia rẽ con người. Nó là chất độc làm gãy đổ tình bạn và làm tan vỡ những mối quan hệ tốt lành. Nó là cái gai gây phiền toái và gây đau nhức; nó là lưỡi gươm gây chết người.”

16. Không ai xứng đáng nhận được tình thương của con hơn là chính con

“Con hãy tìm trong vũ trụ những ai xứng đáng nhận được tình yêu và lòng thương mến của con hơn là bản thân con? Người đó không thể tìm được ở đâu cả. Con, chính con, cũng như mọi chúng sanh trên thế gian này, xứng đáng với tình yêu và lòng thương mến ấy.”

17. Hiểu được người là khôn ngoan, hiểu được mình là giác ngộ

“Chiến thắng bản thân mình còn hay hơn là đánh thắng một ngàn trận đấu. Chiến thắng ấy là của con; nó không thể bị lấy đi khỏi con bởi thiên thần hay ác quỷ, bởi thiên đàng hay địa ngục.”

18. Đời sống tâm linh không phải là cái gì sang trọng mà là một nhu yếu

“Như cây nến không thể cháy mà không có lửa; người không thể sống nếu không có đời sống tâm linh.”

19. Chuyển hóa nỗi ghen ghét thành sự khâm phục

“Đừng ganh tỵ với những phẩm chất tốt của người, nhưng hãy chấp nhận chúng bằng sự khâm phục của con.”

20. Tìm về suối nguồn bình yên bên trong con

“Bình yên đến từ bên trong. Đừng tìm nó bên ngoài.”

21. Cho đi những gì tích trữ được

“Để sống đúng một cuộc sống vô vị lợi, ta không cần phải xem ta tích trữ được những gì giữa cuộc sống vật chất phồn hoa.”

22. Chọn bạn mà chơi

“Một người bạn gian trá và xấu tính thì đáng sợ hơn cả một con thú hoang; con thú hoang chỉ có thể làm tổn thương thân thể con, nhưng một người bạn như vậy sẽ làm tổn thương cả tâm trí của con.”

23. Không có đường đến hạnh phúc. Hạnh phúc là con đường.

“Không có đường đến hạnh phúc: hạnh phúc là con đường.”

24. Bỏ đi những hư danh giả tạm

“Trên bầu trời thì không thể phân biệt được đâu là hướng Tây, đâu là hướng Đông. Con người tạo ra những sự chia chẻ trong tâm trí của mình và tin rằng những điều ấy là đúng.”

25. Yêu. Sống. Thả cho bay.

“Sau cùng, đây là những vấn đề quan trọng: Con đã yêu chân thành như thế nào? Con đã sống trọn vẹn ra làm sao? Con đã thả cho bay nhiều đến chừng nào?”

Bàn về số mệnh của con người

Nhiều người vẫn tin rằng bất kỳ ai cũng được sinh ra với một số mệnh riêng. Số mệnh ấy quy định hoàn cảnh ra đời của mỗi người (Sinh ra trong gia đình giàu sang hay nghèo hèn…). Số mệnh cũng chi phối tố chất của mỗi người (Sinh ra với thân tướng đẹp hay xấu, khỏe mạnh hay đau yếu, thông minh hay ngu đần…).

Số mệnh cũng chi phối mối tương quan với những người khác (Được nhiều người thương yêu giúp đỡ hay bị nhiều người ghét bỏ hãm hại…). Số mệnh cũng chi phối sự thăng trầm trong cuộc đời (Lúc nào thì cuộc sống được an vui, lúc nào thì gặp nhiều tai ương hoạn nạn, lúc nào sự nghiệp thăng hoa, lúc nào thì lụn bại…). Để tìm hiểu về vấn đề này, chúng ta hãy cùng giải quyết các câu hỏi sau: Có hay không có số mệnh? Số mệnh do đâu mà có? Số mệnh là tất định hay bất định? Ta có thể làm gì với số mệnh của chính mình?

20140819095015-quyettamlamgiau

Có hay không có số mệnh?

Trước đây, cuộc sống của con người lệ thuộc rất lớn vào sản xuất nông nghiệp. Năm nào được mùa thì no đủ. Năm nào thất mùa thì đói kém. No đủ thì xã hội an vui, ít trộm cắp. Đói kém thì xã hội bất ổn, nhiều trộm cắp, thậm chí tàn hại lẫn nhau. Cuộc sống của con người an vui no đủ hay không, tùy thuộc vào sản xuất nông nghiệp. Nông nghiệp lệ thuộc vào thời tiết. Theo quan điểm của nhiều người ở thời ấy, thời tiết phụ thuộc vào ý muốn, sự sắp đặt của thượng đế hay ông trời. Như vậy vận mệnh của con người là do ông trời an bài, sắp đặt.

Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật đã chỉ ra rằng ý muốn hay sự sắp đặt của ông trời, thật ra chỉ là các quy luật tự nhiên. Nếu biết được các quy luật này, chúng ta có thể làm chủ sản lượng nông nghiệp, khống chế dịch bệnh. Do đây cuộc sống con người không còn lệ thuộc nhiều vào thời tiết. Vận mệnh của con người, từ tay ông trời được chuyển giao vào tay con người. Ông trời không còn đóng vai trò quan trọng trong đời sống con người, nên niềm tin vào số mệnh do trời sắp đặt cũng phai nhạt bớt.

Hiện nay, nhiều người tin rằng số mệnh không sẵn có. Số mạng của ta tùy thuộc vào mức độ trí tuệ, mức độ sáng tạo, mức độ siêng năng, ý chí phấn đấu của ta mà nó trở thành tốt hay xấu. Số mệnh của ta do chính ta tạo ra ngay trong đời này. Quan điểm này được biện minh, khi trên thế giới có những người sinh ra trong điều kiện bình thường, nhưng nhờ có sự siêng năng, sáng tạo v.v… vẫn tạo ra được một sự nghiệp lừng lẫy. Những người siêng năng học hỏi, siêng năng làm việc dễ có một cuộc sống, một sự nghiệp tốt hơn những người ham chơi lười biếng.

Mặc dù thế, quan điểm trên có nhiều khiếm khuyết. Nó không lý giải được sự sai khác về hoàn cảnh, tố chất của mỗi người khi ra đời. Không lý giải được tại sao hai người cùng có hoàn cảnh như nhau, tri thức tương đương, không khác nhau nhiều về khả năng sáng tạo, lại có hai sự nghiệp khác nhau. Có những người dù luôn cố gắng học hỏi làm việc mà đời sống khó khăn vẫn hoàn khó khăn. Có những người sống một cách nhàn hạ, không cố gắng nhiều mà cuộc sống vẫn dễ dàng tốt đẹp. Ngay ở nơi một người, có những lúc dù rất cố gắng siêng năng, sự nghiệp vẫn không thăng tiến, nhưng có những lúc dù không cố gắng nhiều, sự nghiệp vẫn tiến triển vượt bực. Và trong cuộc sống, có những sự kiện may mắn hay xui xẻo khi xuất hiện có thể thay đổi cuộc sống của ta một cách mạnh mẽ. Sự xuất hiện của các sự kiện ấy nhiều khi nằm ngoài mọi tiên liệu của chúng ta, ngoài dự đoán của các ngành khoa học, nhưng nó có thể gây ra hậu quả to lớn vượt xa mọi khả năng phấn đấu của ta.

Rõ ràng cuộc đời và sự nghiệp của ta không chỉ phụ thuộc vào ý chí phấn đấu của ta. Nó còn phụ thuộc vào những yếu tố khác, mà chúng ta gọi là “thời vận”. Thời vận là một biểu hiện của “số mệnh”. Như vậy, dù đang ở trong thời đại khoa học, dù có tinh thần khoa học triệt để, chúng ta vẫn không thể phủ nhận vai trò của “số mệnh” trong cuộc đời của mỗi người.

Nguồn gốc của “số mệnh”

Vì không thể phủ nhận “số mệnh”, nên câu hỏi kế tiếp là “số mệnh” do đâu mà có?

Đây là đề tài được nhiều tôn giáo, nhiều đạo gia, nhiều triết gia quan tâm. Hiện chúng ta có rất nhiều câu trả lời khác nhau, nhưng có thể quy tất cả vào hai quan điểm chính.

1- Số mệnh do một thế lực bên ngoài tạo ra. Như có tôn giáo cho rằng, số mệnh là do trời hay một vị thượng đế sắp đặt.

2- Số mệnh do chính mỗi người tự tạo ra. Quan điểm này lại được phân thành hai:

– Số mệnh do chính mỗi người tự tạo lấy trong đời này.

– Số mệnh do chính mỗi người tự tạo lấy qua nhiều đời trong quá khứ và đang tiếp tục tạo ra trong đời này. Có thể xem đây là quan điểm của nhà Phật. Thật ra, nhà Phật không gọi là số mệnh mà gọi là nhân quả nghiệp báo. Vì cuộc đời là một chuỗi nhân quả nghiệp báo tương tục không gián đoạn.

“Số mệnh” của mỗi người mang tính tất định hay bất định?

Chúng ta có thể xem số mệnh là một chuỗi thăng trầm đổi thay trong cuộc đời của một người. Nếu chuỗi đổi thay ấy được xác định một cách rõ ràng theo thời gian, chúng ta có thuyết định mệnh. Trong trường hợp này, số mệnh mang tính tất định.

Thông thường quan điểm cho rằng số mệnh do trời sắp đặt, dễ được diễn dịch thành thuyết định mệnh. Thuyết này có một nhược điểm: Nếu số mệnh là định mệnh, không thể thay đổi thì mọi tạo tác của ta trong đời này trở thành vô nghĩa. Thật ra, đối với một số tôn giáo lớn, dù vẫn cho số mệnh do trời hay thượng đế sắp đặt, nhưng nếu chúng ta sống thuận ý trời, đẹp ý Chúa thì vẫn được những tưởng thưởng xứng đáng. Nói vậy là đã thừa nhận số mệnh có phần bất định.

Với quan điểm cho rằng, số mệnh do chính chúng ta tự tạo ngay trong đời này, vậy khi chưa có ý thức tạo lập cuộc đời, số mệnh hoàn toàn bất định. Nhiều triết gia phương Tây, dù không đề cập đến số mệnh, nhưng vô tình họ đã ủng hộ quan điểm này, khi cho rằng con người chỉ sinh ra một lần trong đời, không có quá khứ, không bị ràng buộc bởi quá khứ. “Thượng đế đã chết rồi” nên không còn ai sắp đặt cho ta một số mệnh. Yếu tính của con người là tự do. “Người nào tự mình tự do lựa chọn, tự mình tạo nên mình, tự mình là thành quả của mình, kẻ ấy mới đích thực hiện hữu”. Việc cho rằng, chúng ta sinh ra với một số mệnh như tờ giấy trắng, hoàn toàn bất định, số mệnh trở thành thế này hay thế kia tùy theo sự tạo tác của ta, sẽ vấp phải các nhược điểm như đã nói ở phần I.

Với quan điểm cho rằng, số mệnh do chính ta tạo ra trong quá khứ và đang tiếp tục tạo ra trong hiện tại thì số mệnh này không hẳn là tất định cũng không hẳn là bất định. Quan điểm này của nhà Phật không vấp phải các nhược điểm trên và cho ra một lý giải hoàn toàn phù hợp với thực tế. Quan điểm này được trình bày đầy đủ qua lý Nhân quả Nghiệp báo.

Theo lý Nhân quả, bất kỳ một sự kiện nào xuất hiện trong đời đều có nguyên nhân của nó. Các nguyên nhân này do mỗi người tự tạo lấy, thông qua ba nghiệp thân, khẩu, ý nên gọi là “nghiệp nhân”. Trong ba nghiệp, ý đóng vai trò chủ đạo.

Những nghiệp nhân thời quá khứ khi đủ duyên cho ra quả thời hiện tại.

Những nghiệp nhân thời quá khứ và đang được tạo ra ở thời hiện tại, khi đủ duyên sẽ cho ra quả ở thời vị lai.

Quả là những sự kiện xuất hiện trong đời sống của ta.

Những nghiệp nhân thời quá khứ và hiện tại liên tục cho ra quả thời hiện tại và vị lai. Những quả ấy nối tiếp nhau tạo thành dòng sống của mỗi người. Do không thể truy tìm dược chỗ khởi đầu của dòng sống, nên nói rằng dòng sống đã xuất hiện từ vô thủy. Đời người chỉ là một đoạn ngắn trên dòng sống dài như vô tận ấy. Như vậy, chúng ta, ai cũng trải qua vô lượng đời kiếp, trôi lăn trong sanh tử luân hồi cho đến ngày hôm nay. Đời sống hiện tại, là cái quả nối tiếp của những đời quá khứ và là nhân của các đời vị lai.

Các nghiệp nhân được phân thành hai loại, thiện và ác. Nghiệp nhân thiện cho ra quả tốt. Nghiệp nhân ác cho ra quả xấu. Nếu quá khứ tạo được nhiều nghiệp nhân thiện thì hiện đời sẽ có nhiều sự kiện tốt xuất hiện trong đời sống của ta. Ngược lại, sẽ có nhiều sự kiện xấu xuất hiện trong đời. Trong quá khứ, chúng ta đã tạo nhiều nghiệp nhân, thiện ác lẫn lộn, nên hiện đời cuộc sống có lúc tốt, lúc xấu, lúc thăng, lúc trầm… Chính điều này đã làm nên ý nghĩa của số mệnh.

Như vậy số mệnh không do một vị thượng đế hay một ông trời sắp đặt mà do chính mỗi người tự tạo lấy trong quá khứ và đang được tiếp tục tạo ra trong hiện tại.

Do cuộc sống ở hiện đời là cái quả của những gì chúng ta đã gây tạo từ những đời trước, nên khi sinh ra chúng ta phải thừa hưởng những nghiệp nhân mà chính mình đã tạo ra trong quá khứ. Như vậy chúng ta không sinh ra với một số mệnh hoàn toàn bất định, mà vẫn có một “số mệnh” chi phối đời sống của chúng ta. Chính “số mệnh” này đã quy định hoàn cảnh, tố chất của mỗi ngươi khi được sinh ra. Do mỗi người đều tạo ra những nghiệp nhân riêng, nên hoàn cảnh của mỗi người khi ra đời cũng riêng khác.

Dù “số mệnh” đã có khi ra đời, nhưng “số mệnh” đó lại do ta tạo ra dưới sự chi phối của lý Nhân quả, nên nó không phải là định mệnh không thể thay đổi. Nếu “số mệnh” là định mệnh thì mọi hành vi tư tưởng của ta trong đời này hoàn toàn vô nghĩa. Sống đạo đức hay phi đạo đức, sống vị kỷ hay vị tha, sống lười biếng hay siêng năng v.v… đều như nhau. Điều này không phù hợp với thực tế. Cho nên, “số mệnh” vẫn có phần bất định.

Ta có thể làm gì với “số mệnh” của chính mình?

Do “số mệnh” có phần bất định, nên chúng ta có thể chỉnh sửa thay đổi “số mệnh” của chính mình. Vì “số mệnh” chịu sự chi phối của lý Nhân quả, nên muốn thay đổi “số mệnh”, chúng ta phải biết cách vận dụng lý Nhân quả.

Như đã nói, chúng ta tạo ra các nghiệp nhân thông qua thân, khẩu và ý. Vì thế chúng ta cũng phải nương nơi thân, khẩu, ý của chính mình mà sửa đổi “số mệnh” của mình. Muốn “số mệnh” tốt đẹp hơn, chúng ta cần làm các việc thiện, hạn chế các việc ác. Do từ nhân tới quả phải mất một khoảng thời gian, nên những việc làm tốt có thể chưa cho quả tốt liền. Lại nữa, nếu những nhân ác ở quá khứ còn nhiều và mạnh, nó sẽ ngăn trở các nghiệp nhân tốt vừa tạo ra cho quả sớm. Hiểu như vậy, chúng ta sẽ không ngạc nhiên khi thấy mình đã làm nhiều việc tốt mà hoàn cảnh vẫn chưa thay đổi. Ở đây đòi hỏi chúng ta phải có niềm tin vào lý Nhân quả, kiên trì thực hành, kết quả sẽ đến.

Cách làm trên, là hướng ra ngoài làm các việc thiện thông qua thân và khẩu. Do ý đóng vai trò chủ đạo, nên muốn sửa đổi “số mệnh” một cách tích cực, chúng ta phải hướng vào trong sửa đổi tâm ý của chính mình. Ngoài làm các việc thiện, trong sửa đổi tâm ý sao cho phù hợp với đạo lý, chúng ta sẽ thay đổi được “số mệnh” của chính mình và thành quả sẽ đến ngay trong hiện đời.

Một câu chuyện thời quá khứ

Liễu phàm tiên sinh, tác giả cuốn Liễu phàm tứ huấn, khi còn nhỏ đã mất cha. Thay vì như số đông, đi học để ra làm quan, ông nghe lời mẹ theo nghề thuốc.

Một hôm, tiên sinh lên chùa Từ Vân chơi, gặp một cụ già, râu dài, tướng mạo như tiên. Tiên sinh ngưỡng mộ, tới chào hỏi. Cụ già hỏi:

– Người có mạng làm quan, năm tới sẽ đậu tú tài. Sao giờ còn lang thang ở đây, không lo học?

Tiên sinh trình bày nguyên do. Rồi hỏi thăm tên họ, quê quán cụ già. Được biết, cụ họ Khổng, người Vân Nam, là người được chân truyền cuốn Hoàng cực kinh thế thư của Thiệu Khang Thiết. Sách này căn cứ Kinh dịch và số học để bói về thời thế đất nước và vận mệnh con người. Nghe vậy, tiên sinh mời cụ về nhà gặp mẹ và nhờ xem số cho mình.

Cụ bói cho tiên sinh không việc nào không đúng, từ việc nhỏ đến việc lớn. Năm nào thi đậu cấp gì, thứ hạng bao nhiêu, năm nào làm quan, bao lâu v.v… cụ đều nói rất chính xác. Tiên sinh ghi chép đầy đủ những gì cụ Khổng đã bói cho: Tuy có làm quan nhưng không đậu được tới cử nhân. Năm 53 tuổi ngày 18 tháng 3 giờ Sửu mất tại nhà. Không có con nối dõi…

Do thấy đời mình diễn ra đúng y những gì mà cụ Khổng đã bói, ngay cả những việc lúc đầu tưởng chừng sai, rốt cuộc cũng không thể sai, nên tiên sinh tin chắc rằng, con người đã có một số mệnh an bài. Việc thăng quan tiến chức, giàu sang hay phú quý đều có thời có lúc của nó, đã được trời ấn định.

Năm 35 tuổi, Tiên sinh có duyên gặp Thiền sư Vân Cốc Pháp Hội trên núi Thê Hà. Ngồi thiền với Thiền sư suốt ba ngày. Sau buổi tọa thiền, Sư hỏi:

– Sở dĩ con người không thể trở thành thánh nhân, vì bị những vọng niệm lăng xăng quấy rối. Ngươi ngồi ba ngày mà không thấy khởi lên môt niệm nào, làm sao được vậy?

Tiên sinh trả lời:

– Sau khi cụ Khổng lấy số mạng cho con, con thấy cuộc đời sống chết vinh nhục đều do trời sắp đặt. Dù muốn dù không cũng chẳng thay đổi được gì. Suy nghĩ thêm cũng vậy thôi, nên không còn suy nghĩ.

Thiền sư Vân Cốc bật cười nói:

– Ta tưởng ngươi là kẻ xuất chúng, nào ngờ chỉ là kẻ phàm phu.

Tiên sinh không hiểu, hỏi lại.

Sư đáp:

– Tâm người nếu còn lăng xăng thì còn bị âm dương khí số trói buộc, làm sao bảo là không có số mệnh? Nhưng số mệnh chỉ chi phối người thường, là người sống suốt đời chìu theo tánh mình, không biết thay đổi. Còn đối với người có sự chuyển biến mạnh mẽ, số mệnh không thể chi phối. 20 năm nay, Khổng tiên sinh chỉ cho ngươi thấy số mệnh mà ngươi không thể thay đổi số mệnh chút nào. Vậy không phải phàm phu là gì?

Liễu Phàm thắc mắc:

– Không lẽ người ta có thể thoát khỏi sự chi phối của số mệnh hay sao?

Thiền sư Vân Cốc đáp:

– Mạng do ta tạo, phước do mình tìm. Kinh thư, Kinh thi đã dạy rõ ràng như vậy. Kinh Phật cũng dạy: “Mong cầu giàu sang sẽ giàu sang. Mong cầu sinh trai gái sẽ sinh trai gái. Mong cầu sống lâu sẽ sống lâu”.

Tiên sinh không đồng ý:

– Mạnh Tử nói: “Không tìm thì thôi, tìm sẽ được. Tìm như vậy có lợi ích vì tìm được. Đó là tìm bên trong. Còn tìm không đúng cách thì kết quả phụ thuộc vào số mệnh, tìm như thế vô ích. Vì đó là tìm bên ngoài ta”. Như nhân nghĩa đạo đức, đó là những gì ở trong ta, ta có thể đạt được bằng sức mình. Còn tìm công danh phú quý là cái ở bên ngoài ta, tìm như vậy làm sao tìm được.

Sư trả lời:

– Mạnh Tử nói rất đúng. Chỉ vì ngươi hiểu chưa đúng. Ngươi không nghe Lục tổ nói: “Tâm ta như miếng ruộng, phước họa do mình trồng”, phải ở trong lòng mà gieo thì không gì là không được. Tìm do ta, không riêng nhân nghĩa đạo đức mà công danh phú quí cũng sẽ được hết. Trong và ngoài đều được, tìm như vậy, mới có lợi ích vì tìm được. Ngược lại, nếu không xem xét trong lòng, chỉ một mực hướng ra ngoài tìm cầu, xem thì thấy có vẻ đúng cách nhưng được hay không thì tùy số mệnh. Cuối cùng trong ngoài đều mất, nên Mạnh Tử nói vô ích là vậy.

Thiền sư Vân Cốc hỏi tiếp:

– Ngươi tự xét lại xem, ngươi có xứng đáng đậu tiến sĩ hay không? Có xứng đáng có con nối dõi hay không?

Tiên sinh kiểm điểm khá lâu, rồi đáp.

– Dạ con không xứng. Vì những người thi đậu làm quan là người có phước, con không phước. Con không lo xây dựng đức hạnh để tiếp nhận phước lớn. Tánh con thường bực bội bồn chồn, chịu không nổi những phiền toái vụn vặt xảy ra trong đời sống. Lòng hẹp hòi không thể bao dung, thường lấy tài mình chèn ép người. Lại hay thích sao làm vậy, không suy nghĩ cặn kẽ. Lời nói không thận trọng, thường nói bậy. Những điều như thế là tánh vô phước, làm sao xứng đáng với con đường khoa cử. Con cũng không đáng có con, vì chỗ nào càng dơ thì càng nhiều sinh vật, nước trong ít tôm cá. Con có tật thích sống sạch cho riêng mình. Đó là nguyên nhân thứ nhất không con. Bầu không khí hòa thuận sẽ làm cho mọi loài sinh sôi, mà tánh con hay nóng giận bực bội, đó là nguyên nhân thứ hai không con. Yêu thương là nền tảng của sự sinh sôi, còn khắt khe ích kỷ là nguồn gốc của sự không sinh dục. Con chỉ biết yêu quý danh vọng tiết tháo của mình, thường không thể hy sinh giúp đỡ người khác… ngoài ra còn nhiều lỗi lầm không sao nói hết.

Thiền sư Vân Cốc nghe xong, nói:

– Đâu phải chỉ có vấn đề thi cử mới như vậy. Những cái khác cũng vậy. Người thấy lý lẽ, biết đó là phước báu của mình. Người không biết, sẽ giải thích bằng định mệnh trời kêu ai nấy dạ. Thật ra trời chỉ xử lý trên những gì con người có. Có bao giờ thêm bớt chút nào theo ý riêng của mình đâu.

Thiền sư nói tiếp:

– Nay ngươi đã biết được nguyên nhân không đậu tiến sĩ, không có con, thì cứ nhắm vào nguyên nhân đó mà sửa chữa. Phải tích bồi công đức. Phải bao dung lỗi lầm của người khác. Phải hòa thuận yêu thương mọi người. Phải giữ gìn sức khỏe. Khổng tiên sinh đoán ngươi không đậu Tiến sĩ, không có con. Đó là số trời đã định. Nhưng ta vẫn có thể không tuân theo. Từ nay về sau, ngươi phải trau dồi tánh hạnh đạo đức cho nhiều. Hết lòng làm thiện. Tích bồi âm đức. Phước này do mình tạo, không thể không hưởng.

Tiên sinh theo đó mà thực hành.

Đúng như lời của Thiền sư Vân Cốc nói. Cuộc đời của ông không còn diễn biến theo số mệnh mà Khổng tiên sinh đã bói cho. Thay vì sống 53 tuổi, ông sống tới 74 tuổi. Thay vì không đậu cử nhân, ông đậu tới tiến sĩ. Thay vì không có con, ông có một người con trai, sau này cũng đậu tiến sĩ. Vì thế ông đã viết ra cuốn Liễu phàm tứ huấn để dạy con. Trong đó có nói: “Ai cho họa phúc do mình tạo, là lời thánh hiền. Còn cho trời định, là lập luận của hạng phàm tục”.

Như vậy dù sinh ra với một số mệnh, nhưng nếu biết vận dụng lý Nhân quả nghiệp báo một cách đúng đắn, ngoài làm thiện, trong sửa ý, chúng ta vẫn sửa đổi được số mệnh của chính mình.

Cách xua đuổi tà khí khi về nhà mới

Với ngôi nhà mới hay nhà để trống đã lâu, trước khi thuê hay mua và sử dụng, việc xua đi tà khí, tận dụng trọn vẹn khí tốt cho gia chủ là điều vô cùng quan trọng.

Nhà đã lâu không có người ở, nhà mới thường mang lại cảm giác lạnh lẽo, âm u cho người ghé thăm, người ở cho dù đó là nhà mặt phố, căn hộ chung cư hay cả biệt thự rộng rãi với khuôn viên cây cảnh xung quanh. Do vậy, trước khi dọn đến nhà mới, người sử dụng cần phải biết cách cải tạo căn nhà để luồng khí âm u ấy không ảnh hưởng đến mình và gia đình.

Một số lưu ý người ở mới cần làm để xua đi tà khí, khí xấu:

Đốt nến

dot-nenTrước hết, bạn cần đốt một cây nến, đặt ở góc Đông Nam trong nhà và theo dõi ánh lửa. Đương nhiên, khi ấy, người dùng phải khép kín cửa, tránh gió lùa để dễ dàng theo dõi hướng cháy cửa lửa. Nếu nhà để quá lâu, độ ẩm cao và nhiều nấm mốc, khí xấu, độc hại thì ánh lửa sẽ lập lòe chứ không cháy đứng ngọn. Đốt nến sẽ giúp xác định tình trạng của ngôi nhà cũng như kiểm soát được khí lưu trong nhà.

Xông nhà

Chú ý xông kỹ những góc tường hứng nước mưa nhiều, ẩm mốc cao. Khi xông, hãy bật hết đèn lên, vừa để thấy rõ hiện trạng hư hại (nếu có) vừa tăng nhiệt khí, dương khí. Nếu nhà chưa có điện, hay bị cắt điện đã lâu, hãy nhóm bếp than rồi đem một chậu cây xanh đặt vào hướng Nam hay hướng Đông trong nhà để tăng cường dương khí.

Xông nhà sẽ giúp xua đi chướng khí tích tụ lâu ngày trong nhà và đuổi các loại côn trùng có hại. Thuốc xông là hỗn hợp các loại rễ cây, hương liệu, bột trầm hương và nhang thơm. Sau khi mua về, bạn đốt vào cái siêu hoặc nồi đất để khói bay ra khắp nhà. Xông theo nguyên tắc từ trên xuống dưới và từ trong ra ngoài.

Treo chuông gió

Khi dương khí đã vượng, hãy treo phong linh (chuông gió) ở một số nơi. Phong linh là công cụ dẫn dắt khí luân chuyển trong nhà, thường được treo ở các cửa ra vào hoặc cửa sổ. Bạn hãy chọn chuông gió bằng kim loại, phát ra âm thanh lớn, ứng với cung Thương của ngũ âm cổ. Theo phong thủy, loại chuông gió này thuộc hành Kim, mang ý nghĩa tiền tài theo gió vào nhà.

chuong-gioCung Thương trong âm nhạc cổ xưa ứng với nốt sol trong âm nhạc thất âm Tây phương hiện đại. Khi nghe âm điệu này, tâm trạng con người sẽ vui tươi, hưng phấn và hướng thiện.

Đồng thời người xưa cũng quan niệm rằng, âm thanh của kim khí có khả năng xua tà ma dịch bệnh, mang lại may mắn, báo hiệu đã có người cư ngụ, dương khí đã đến vùng đất này, “người âm” hãy tránh xa.

Tuy nhiên, gia chủ cần lưu ý, phong linh là con dao hai lưỡi. Nếu khí xung quanh hay bản thân căn nhà là khí xấu, phong linh sẽ làm chúng phát tán khắp nơi, ảnh hưởng không tốt đến gia chủ. Vì vậy, người dùng nên tính toán cẩn thận để có được kết quả tốt nhất.

Trấn nhà

Trước đây, khi nhà còn xây trên nền đất, lúc dọn vào nhà mới người ta thường lấy các mẩu vàng găm (đá khoa học phong thủy) nhỏ, hoặc 8 đồng xu chôn ở 4 góc nhà, với ngụ ý tiền tài vào tứ phương, đồng thời xua đi tà khí trấn nhà để được cát tường. Ngày nay, việc đó được gia chủ làm trước lúc lát gạch cho sàn nhà.

Nếu có điều kiện, hãy thay vàng găm bằng thạch anh trắng, cũng có ý nghĩa như vậy, nhưng công năng của thạch anh cao hơn, vì từ tính của nó thuộc loại mạnh nhất và ổn định nhất. Dùng thạch anh trong nhà sẽ giúp ổn định từ trường, điều tiết chướng khí, mang lại sự ổn định và tài lộc cho gia chủ.

Nếu căn nhà bạn dọn đến không cần phải sửa lại sàn nhà hãy bỏ vàng găm và tiền xu vào một cái lọ nhỏ để trong góc nhà, hay góc cửa cũng mang ý nghĩa tài lộc tương tự. Ngoài ra, cũng có thể để vài mẩu vàng găm vào trong bát nhang địa tài, vì Thổ sinh Kim, sẽ mang lại tài lộc.

4 điều đại kỵ khi chuyển nhà

– Chọn ngày: Nhà quay hướng nào thì thuộc hành đó (hướng nhà là hướng cửa chính quay ra) nên cần tránh những ngày thuộc hành khắc với hành của hướng nhà. Chẳng hạn: nhà hướng Nam thuộc hành Hỏa nên kỵ ngày Thủy vượng. Những ngày hành Thủy là: Thân, Tí, Thìn.

– Tránh ngày xung với bản mệnh: Những ngày mà thiên can hoặc địa chi xung với tuổi của gia chủ thì không nên chuyển nhà. Chẳng hạn, người tuổi Qúy Tỵ thì tránh chuyển nhà ngày Qúy Tỵ, Qúy Hợi, Kỷ Tỵ, Kỷ Howuj, Đinh Tỵ, Đinh Hợi vì đó là 6 ngày trực xung với tuổi. Nói cho rõ hơn thì can Quý thuộc hành Thủy còn can Đinh hành Hỏa khắc nhau, can Kỷ hành Thổ khắc hành Thủy cho nên tránh. Còn tránh ngày Quý Tỵ vì ngày đó có thiên can địa chi trùng với can chi của tuổi.

chuyen-nha– Đại kỵ chuyển nhà vào tháng 3, tháng 7: Tháng 3 có tiết Thanh minh, tháng 7 có tiết Vu lan có liên quan đến người chết. Nếu chuyển nhà vào những thời điểm này dễ làm kinh động đến vong linh nên không tốt.

– Đại kỵ ngày Tam nương, sát chủ: Việc chuyển nhà được xem là có ảnh hưởng lớn đến tâm lý, sức khỏe và tài vận của gia chủ cho nên phải chọn những ngày tốt. Thông thường ngày hoàng đạo, giờ hoàng đạo là tốt. Tuy nhiên phải lưu ý thêm một đặc điểm là loại trừ các ngày hoàng đạo trùng với ngày có sao xấu chiếu.

Nếu ngày hoàng đạo lại trùng với các ngày Tam Nương (gồm: 3, 7, 13, 18, 22, 27) hoặc 5, 14, 23 (Dương công kỵ nhật) hay ngày sát chủ, Thiên tai, Địa họa thì không nên chọn vì những ngày đó kỵ việc xuất hành.

Bài viết mới