Trang chủ Blog Trang 2

Điềm báo khi gà mái gáy

Tiếng Gà Mái Gáy

Tiếng gà trống gáy vào mỗi sáng không còn gì xa lạ với mọi người nữa rồi. Gà trống có vai trò gáy vào mỗi sáng để đánh thức mọi ngươi dậy. Nhưng khi gà mái mà cất tiếng gáy lên, mọi người lại lo sợ vì không biết báo hiệu điềm gì, bởi bình thường gà mái không thể gáy được. Vậy Gà mái gáy thì có điềm gì, tốt hay xấu ? Hãy cùng bài viết hôm nay giải đáp về vấn đề này nhé!

Tiếng Gà Mái Gáy

Nói chung, cái gì cũng có”âm dương”… con gà máy mà biết gáy, chứng tỏ âm dương bị đảo lộn. Nói theo tâm linh, thì”gà mái gáy” là biểu hiện của việc khí dương lẫn vào âm, bị loạn khí, xung quanh đảm bảo có điều bị rối loạn, hoặc địa hình phong thủy ở đó bịphá hoặc bị biến đổi làm cho âm dương nhị khí lẫn lộn vào nhau. Và có thể nói, đây là một dấu hiệu, một điềm báo cho chúng ta biết sắp có chuyện xảy ra. Vậy đây là chuyện xấu hay tốt?

Về loài gà cũng có nhiều điềm kiêng kỵ và mê tín. Nuôi gà ác trong nhà sẽ trừ được ma quỷ. Gà ác là thứ gà nhỏ thịt đen, lông trắng, còn gọi là gà ri. Ban ngày, nếu bỗng dưng gà gáy là điềm gở. Phải lập tức giết thịt và đem quẳng đầu gà thật xa để tránh những điềm không hay. Cần phải mời thầy cúng tới cúng giải.

Gà mái gáy là gáy gở: Gáy vào canh một là sẽ có hỏa tai, gáy vào canh hai sẽ có trộm cướp, như tục ngữ nói canh một hỏa tai, canh hai trộm cướp. Người ta còn phân biệt, nếu gà mái gáy gở một tiếng ngắn, làng sẽ bị đạo tặc, nếu tiếng gáy kéo dài, chính chủ nhân sẽ bị tai họa.

Người ta thường vành mỏ gà ra xem, nếu lưỡi gà đỏ là điềm có cháy, nếu lưỡi gà trắng là có trộm cướp. Để giải trừ tai nạn, cần giết thịt con gà đem quẳng đầu nó ra sông. Làm thịt gà thường dùng nước sôi để vặt lông cho dễ, nhưng chỉ là nước lã đun sôi, nếu đem dùng nước đồ xôi mà làm lông gà, sau này trong nhà sẽ không nuôi được gà.

Theo quan niệm dân gian của người Việt bao đời này thì những hiện tượng bất thường như chim sa, cá nhảy, chó tru, gà trống đẻ trứng, gà mái biết gáy… đều là những điềm báo xấu. Có nơi cho rằng gà mái gáy là do bếp bị “động”, hoặc trong nhà sắp có người ốm đau, bệnh tật. Chính vì vậy, nhiều nhà thấy gà mái gáy là lập tức giết thịt. Thậm chí có nhà cẩn thận hơn còn xem bói, mời thầy cúng về trừ tà…

Tuy nhiên, việc gà mái gáy có phải là điềm báo tin dữ hay không vẫn còn gây nhiều tranh cãi. Bởi có một số người nói rằng:

– “Ông anh kế bên nhà hồi năm rồi có đến 2 con mái tre biết gáy, ổng sợ xui nên bán có 100 nghìn/con cho 2 thanh niên. Mà từ năm rồi đến giờ thấy cuộc sống 2 người mua vẫn bình thường, có sao đâu”.

– “Con gà mái nhà tôi cũng gáy nhưng nó nuôi con cực giỏi…và rất dữ tợn… Tôi có thấy xui xẻo gì đâu, mà vườn lại thật vui nhất là lúc gần sáng khi nghe tiếng nó gáy”.

Trong thế giới tâm linh, những người tin vào ma, thờ cúng, tin vào sự âm dương và các điềm gỡ thì gà mái gáy là một điều xấu. Nhưng trong khoa học, khi gà mái gáy thì đây là hiện tượng phân hóa giống đực và cái ở gà. Nhưng khi còn nhỏ, sinh vật có thể phát dục theo cả hai hướng đực hoặc cái. Nếu môi trường trong và ngoài đặc biệt có lợi cho sự phát dục theo giới tính ngược lại, nó sẽ sản sinh ra kết quả “quái dị”. Đó là hiện tượng chuyển ngược tính biệt.

Chính vì vậy, chúng ta không thể nào khẳng định được Gà mái gáy thì có điềm gì, tốt hay xấu ? được. Nhưng khi phát hiện gà mái nhà mình gáy thì mọi người trong nhà nên cẩn thận khi đi ra ngoài để đảm bảo an toàn. Hi vọng với những thông tin từ bài viết Gà mái gáy thì có điềm gì, tốt hay xấu ? giúp các bạn giải đáp được vấn đề thắc mắc.

Top 9 vật phẩm mang lại cát tường trên bàn làm việc của lãnh đạo

Trên bàn làm việc của lãnh đạo thường có đặt những vật cát tường, chúng sẽ có tác dụng sinh vượng vận thế. Nhưng cần chú ý khi bố trí, nên đặt chúng bên phía trái bàn làm việc, so với chỗ ngồi làm việc.

Nếu như phía trên hoặc phía sau bàn việc có treo cờ, có thể treo phía bên trái, kể từ phía bên trong nhìn ra phía trước, hoặc treo ở giữa, tránh treo bên phải.

1. Vật trang trí hình Rồng

Phong thủy học có khái niệm “trái Thanh long, phải Bạch hổ”, vì vị trí Thanh long bên trái tượng trưng cho năng lượng khí dương, nếu có thể tăng cường phương vị này sẽ giúp công ty hoặc doanh nghiệp duy trì được vận thế hưng thịnh, cát tường, nhân viên tích cực, năng động, đồng thời còn hạn chế tiểu nhân hãm hại.

Nhưng cách để sinh vượng tốt nhất cho phương vị này chính là đặt vật trang trí hình Rồng.

Rồng Phong Thủy Cát Tường

Nếu bên trái bàn làm việc hoặc bờ tường phía trái phòng làm việc có đặt vật trang trí hình Rồng, như vậy không chỉ giúp tăng vận thế mà còn được quý nhân giúp đỡ.

Đặt vật trang trí hình Rồng bằng đồng sẽ vô cùng thích hợp. Nếu người lãnh đạo muốn tăng cường tài vận, thì đặt vật trang trí hình Rồng bằng đá hoặc bằng ngọc sẽ càng thích hợp hơn.

2. Tỳ Hưu Thu hút tài lộc:

– Nếu muốn công ty may mắn về tài lộc, thì tại phòng làm việc hoặc phòng khách của công ty, nên đặt một cặp Tỳ Hưu màu đen, đặc biệt là cặp Tỳ Hưu Độc Ngọc, bố trí đầu Tỳ Hưu nhìn thẳng ra cửa chính để trấn trạch, trừ tà và chiêu tài lộc, cát tường cho công ty.

Xem Thêm: Nguồn Gốc Tỳ Hưu và tác dụng trong Phong Thủy.

Tỳ Hưu

3. Thiềm Thừ (Cóc tài lộc 3 chân)

Đặt trong két sắt một Thiềm Thừ (Cóc tài lộc 3 chân) và hai đồng tiền Hoa mai, để có tài lộc, cát tường bất ngờ và giữ tài lộc.

Thiềm Thừ (Cóc tài lộc 3 chân)

4. Cây Tài Lộc:

Theo Khoa Học Phong Thủy, việc trưng bày Cây Tài Lộc (hay còn gọi là Cây Đá Quý, Cây Đá Phong Thủy) rất tốt. Là biểu tượng của sự sung túc, mang đến cát khí mạnh mẽ cho ngôi nhà, văn phòng công ty hoặc cửa hàng kinh doanh…

5. Thuyền Chở Vàng:

Chiếc thuyền buồm thường thấy được chất đầy thỏi vàng, trên cánh buồm viết 4 chữ Nhất Phàm Phong Thuận (1 chiếc thuyền buồm thuận gió) hay 4 chữ Tiền Trình Dĩ Cẩm (tương lai đẹp như gấm). Vật này mang hàm ý như có 1 chiếc tàu chở đầy vàng chạy vào nhà, vào nơi làm ăn của mình, đem lại lợi lộc, cát tường, của cải. Khi bài trí vật phẩm này, nên để mũi thuyền quay vào nhà. Nó rất thích hợp với những người làm kinh doanh và thường được bày ở các cửa hàng, nơi buôn bán, phòng làm việc.

6. Quả cầu Thạch anh:

– Đặt trên bàn làm việc một quả cầu Thạch anh trắng hoặc đen, hoặc màu xanh biển, với kích thước lớn ở hướng Bắc của bàn làm việc (so với trung tâm của bàn làm việc) để thu hút vận may về sự nghiệp, tốt cho công việc và sự nghiệp, cát tường.

– Hoặc đặt một quả cầu Thạch anh vàng hoặc trắng với kích thước lớn ở hướng Tây Bắc của bàn làm việc (so với trung tâm của bàn làm việc) để sinh vượng vận quý nhân, để hỗ trợ tốt cho tài vận và công danh.

– Hoặc đặt một quả cầu Thạch anh màu đen, hoặc màu xanh biển, hoặc màu xanh lá với kích thước lớn ở hướng Đông Nam của bàn làm việc (so với trung tâm của bàn làm việc) để sinh vượng vận tài lộc.

7. Tam tinh PHÚC-LỘC-THỌ:

Tượng trưng cho 3 vị thần đem lại may mắn, sức khỏe, hạnh phúc cho mọi nhà. Trong đó, Phúc Thần chủ về của cải và hạnh phúc, Lộc thần chủ về quan lộc và tài lộc, cầm quyền trượng. Thọ thần chủ về trường thọ. Khi đặt 3 vị thần này, bạn chú ý đặt ở vị trí cao và trang trọng, mặt quay ra cửa chính.

8. Bắp cải phong thủy:

Trong phong thủy, Bắp Cải được ví như chiếc túi dùng để chứa tiền tài, “của cải”. Và khi tiền đã vào chiếc túi này thì sẽ sinh sôi nảy nở “cuồn cuộn” không ngừng. Bắp Cải giúp mang lại may mắn, thu hút tài lộc rất hiệu quả nên thường được đặt ở vị trí trang trọng.

9. Gậy Như ý (Vương trượng):

Vương trượng (gậy như ý) là vật đại diện cho quyền lực mà ngày xưa các vị quan lại vua chúa luôn sở hữu. Nó là vật phẩm rất quan trọng trong Phong Thủy chuyên dùng để củng cố địa vị và quyền lực, chống lại kẻ tiểu nhân; tăng thêm công danh, uy quyền, sự tôn nghiêm và công danh tài lộc, cát tường cho người sở hữu.

Thích hợp dùng cho người giữ trọng trách lớn như lãnh đạo cơ quan, giám đốc công ty, trưởng phòng… Bày trên bàn làm việc, trong phòng khách, văn phòng.

Tùy tiện nói 20 khẩu nghiệp sau sẽ giết chết tiền đồ của bạn

Tùy tiện nói 20 khẩu nghiệp sau sẽ giết chết tiền đồ của bạn

Một người bình thường, điều dễ phạm phải nhất chính là khẩu nghiệp. Và bởi lời nói gió bay nhưng nghiệp thì không bay, vậy nên phải hết sức thận trọng ‘lời ăn tiếng nói’ của mình.

Khẩu nghiệp là tội mà bất cứ ai cũng dễ mắc phải trong đời. Không phải ai cũng làm ra những chuyện thất đức nhưng lời nói thất đức thì rất dễ mắc phải. Tích lũy qua năm tháng, phúc báo sẽ vì “khẩu nghiệp” mà chạy hết. Do đó, người nói chuyện không có “khẩu đức”, cả cuộc đời thường gập ghềnh, nhấp nhô, thậm chí rất thê lương.

Trong kinh, Phật ví dụ người ác mắng chửi người thiện, người thiện không nhận lời mắng chửi đó thì người ác giống như người ngửa mặt lên trời phun nước bọt, nước bọt không tới trời mà rời xuống ngay mặt người phun. Bởi vậy, ác khẩu chính là đang tự hại bản thân mình.

Tùy tiện nói 20 khẩu nghiệp sau sẽ giết chết tiền đồ của bạn

Vết thương bạn gây ra trên thân thể người khác còn có ngày lành, còn vết thương gây ra do lời nói thì chẳng biết khi nào mới lành lặn được.

Dưới đây là 20 khẩu nghiệp giết chết tiền đồ cần tuyệt đối tránh:

1. Trù người khác bệnh, bệnh dễ vận vào thân.

2. Nói lời công kích sẽ bị đau răng.

3. Nói lời tuyệt tình gây ra đại nạn.

4. Ăn nói phét lác, trở nên vô dụng.

5. Nói yêu người nhưng không làm được sẽ bị người khác lừa gạt.

6. Hay oán than thì một đời đau khổ.

7. Nói lời kiêu ngạo, cả đời không yên ổn.

8. Thích gây thị phi, suốt đời bị phủ nhận.

9. Cười nhạo người khác, mãi mãi thua thiệt.

10. Suốt ngày tâng bốc người trong gia đình, hay gặp chuyện xấu hổ, mất mặt.

11. Cả ngày nói lời tiêu cực, sống một đời sóng gió khổ đau.

12. Hay luận thị phi, cuộc sống bần hàn, đau khổ.

13. Câu nói hận đời mang đến họa oan nghiệp.

14. Luôn miệng chứng minh bản thân dễ bị người khác hiểu lầm.

15. Thích nói dối thì người đời coi rẻ.

16. Ưa nghe nịnh nọt, cả đời ắt không thành công.

17. Dễ dàng nịnh nọt người khác, sẽ bị người bán đứng.

18. Nói lời khinh thường đối phương sẽ nhận quả báo nhân cách bị hủy hoại.

19. Cất lời ly gián, hại người thì cuối đời cô quạnh.

20. Ăn nói không có đường lui dễ gặp đại nạn tuyệt vận.

Biết được những nghiệp báo nặng nề do nói lời không hay này, chúng ta hãy mau học cách ‘tu cái miệng’, tu dưỡng khẩu đức cho bản thân mình.

Người xưa cũng có câu: “Nước đổ khó hốt, gương vỡ khó lành”. Nói chuyện cũng giống như bát nước hắt đi, nước một khi đã đổ đi thì không thể nào thu lại, lời một khi đã nói ra thì không cách nào thu về. Cho nên một lời trước khi nói ra không thể không suy nghĩ thận trọng.

Nguồn gốc Tỳ Hưu và tác dụng trong Phong Thủy

Tỳ Hưu

Tỳ Hưu là một trong 9 loài con của Rồng. Tỳ Hưu là loài linh vật tập hợp những điểm đẹp đẽ nhất của các loài vật khác: Đầu như đầu rồng, có sừng, mình sư tử, có cánh, rất dữ tợn.

–> Xem thêm truyền thuyết về loài rồng tại đây.

Tỳ hưu chuyên hút tinh huyết của các loài ma quỷ, do vậy có tác dụng hộ mệnh, xua đuổi tà ma. Tỳ hưu rất đặc biệt ở chỗ có miệng rộng, mông to, nhưng lại không có hậu môn. Chúng thích ăn vàng bạc,nhưng vì không có hậu môn nên chỉ ăn vào mà không làm thất thoát đi. Do vậy Tỳ Hưu có tác dụng chiêu tài hút lộc.

Nguồn gốc Tỳ Hưu

Tương truyền, thời vua Minh Thái Tổ khi lập nghiệp gặp lúc ngân khố cạn kiệt, vua rất lo lắng. Trong giấc mơ vàng, vua thấy có con vật đầu lân, mình to, chân to lại có sừng trên đầu, xuất hiện ở khu vực phía trước cung điện nuốt nhanh những thỏi vàng ròng sáng chói mang vào trong cung vua.

Con linh vật ấy có mặt giống con lân đực nhưng lại có râu, mình to, mông to như mông bò, đuôi dài, có chùm lông đuôi rậm. Con vật này không ăn thức ăn bình thường mà chỉ ăn vàng, bạc, đặc biệt nó không có hậu môn, do vậy vàng bạc nó ăn vào không bị thoát đi đâu, cho dù no căng bụng.

Theo thầy phong thủy tính toán, khu vực xuất hiện con vật ấy là cung tài và đất ấy là đất linh, như vậy, theo đó giấc mơ đã ứng với việc trời đất muốn giúp nhà vua lập nghiệp lớn. Sau đó, vua Minh Thái Tổ cho xây một cổng thành to trên trục Bắc Nam, đường dẫn vào Tử Cấm thành, ngay tại cung tài ấy.

Tỳ Hưu

Sau khi có linh vật ấy, ngân khố nhà Minh ngày càng đầy. Sau đó, vua cho tạc tượng con linh vật trên bằng ngọc phỉ thúy và đặt trên lầu cao của khu “Tài môn”. Từ đấy, nhà Minh ngày càng mở rộng địa giới và trở thành triều đại giàu có.

Khi nhà Mãn Thanh lên ngôi vua, họ vẫn rất tin vào sự mầu nhiệm của con vật linh kia và đặt tên cho nó là Kỳ Hưu hay cũng gọi là Tỳ Hưu. Nhà Thanh cho tạc nhiều tượng Tỳ Hưu đặt tại cung Vua và Hoàng hậu. Các cung công chúa, hoàng tử đều không được đặt Tỳ Hưu. Các quan càng không được dùng cho nhà mình, bởi quan không được giàu hơn vua.

Thời ấy, ai dùng thứ gì giống vua dùng là phạm thượng. Nhưng sự linh nghiệm của con vật này đã khiến các quan lại lén lút tạc tượng Tỳ Hưu đặt trong phòng kín, ngay cung tài nhà mình để “dẫn tiền vào nhà”.

Muốn tạc tượng phải gọi thợ điêu khắc và thế là thợ điêu khắc cũng tự tạc cho mình một con để trong buồng kín, cầu tài. Cứ thế, các đời sau, con, cháu thợ khắc ngọc cũng biết sự linh nghiệm ấy mà tạc tượng Tỳ Hưu để trong nhà, cầu may.

Chuyện Tỳ Hưu với Hoà Thân

Thiếu thời nhà Hòa Thân rất nghèo, nghèo đến nỗi không có đủ 10 lượng bạc nộp cho quan để xin nhận lại chức quan nhỏ của cha truyền lại. Nhờ ông Liêm (sau này là cha vợ) cho 10 lạng bạc mà Hòa Thân có cơ hội bước vào quan trường.

Thời vua Càn Long, Hòa Thân là nhân vật “dưới một người trên triệu triệu người)” chúng ta đã biết về nhân vật Hòa Thân). Ngân khố nhà vua ngày càng vơi mà nhà Hòa Thân ngày càng giàu với câu nói nổi tiếng “Những gì nhà vua có thì Hoà Thân có, còn những gì Hoà Thân có thì vua chưa chắc đã có”.

Đến khi Hòa Thân bị giết quan quân đã tá hỏa khi thấy tài sản Hòa Thân bị tịch thu nhiều gấp 10 lần ngân khố nhà vua đang có.

Hòa Thân có 2 vật trấn trạch được cất giấu trong hòn giả sơn trước nhà đó là con Tỳ Hưu và chữ Phúc do chính vua Khang Hy viết tặng bà nội, nhân ngày mừng thượng thọ. Khi đập vỡ hòn giả sơn, các quan mới phát hiện trong núi đá ấy có Tỳ Hưu, mà Tỳ Hưu của Hòa Thân to hơn Tỳ Hưu của vua.

691

Ngọc để tạc Tỳ Hưu của Hoà Thân là NGỌC PHỈ THÚY xanh lý mát rượi, trong khi vua chỉ dám tạc bằng BẠCH NGỌC. Bụng và mông Tỳ Hưu của Hòa Thân to hơn bụng, mông Tỳ Hưu của vua và như thế khiến Hòa Thân nhiều vàng bạc hơn vua.

Sau khi tịch thu Tỳ Hưu, nhà vua không thể tịch thu chữ “Phúc” kia được bởi chữ Phúc đã được gắn chết vào đá hồng ngọc; nếu đập đá ra lấy chữ thì đá sẽ vỡ, như thế thì phúc tan. Mà chữ thì do vua Khang Hy viết nên không ai dám phạm thượng. Thế là đành để “Phúc” lại cho nhà Hòa Thân, có lẽ vì thế nên dù phạm nhiều tội tày đình nhưng Hòa Thân chỉ chết một mình, thay vì phải bị tru di tam tộc.

Tại sao Tỳ Hưu tạc bằng các loại đá quý tự nhiên thì mới linh?

Vật liệu tạo hình con Tỳ Hưu này rất nhiều : Làm bằng gỗ, làm bằng đá, làm bằng ngọc, làm bằng sứ, làm bằng đồng… Người Hồng Kông quan niệm rằng chữ Vương có một dấu chấm (.) thành chữ Ngọc, nghĩa là ai dùng ngọc là người vương giả, giàu sang. Do vậy phải tạc bằng ngọc quý thì mới linh nghiệm mà ngọc tự nhiên thì mới quý. Do vậy phải tạc bằng ngọc quý thì mới linh nghiệm mà ngọc tự nhiên thì mới quý.

Chọn tỳ hưu bằng đá thì phải chọn loại đá quý sao cho phù hợp với mệnh từng người nếu không tài vận đâu chưa thấy thì rắc rối sẽ ập xuống đầu. Tỳ hưu rất ham ngủ nên nếu thỉnh tỳ hưu về thì phải khai quang, điểm nhãn để tỳ hưu nhận mặt chủ và bắt đầu công việc của mình.

Tác dụng của Tỳ hưu với Phong Thủy

Và ngày nay sự linh nghiệm của Tỳ Hưu vẫn hiện hữu trong nhân gian, vẫn mang lại nhiều may mắn về tài lộc, sức khỏe, công danh cho người sử dụng theo từng màu sắc của Tỳ Hưu . Và quan trọng nhất Tỳ hưu cần được thông qua căc thủ tục phong thuỷ cần thiết mới phát huy được tác dụng.

Tỳ Hưu chính gốc từ Bắc Kinh từ thời nhà Minh đến hiện nay chỉ có 1 sừng. Thông tin Tỳ Hưu 1 sừng gọi là Tịch Tà (trừ tà) và 2 sừng gọi là Thiên Lộc (tài lộc) hoàn toàn không chính xác, là thông tin nhiễu. Tỳ Hưu 2 sừng là hình dáng đã được biến đổi qua quá trình điêu khắc và truyền miệng trong dân gian, không có tác dụng phong thủy như đã nói.

1. Về màu sắc: Tỳ Hưu màu đen thì có tác dụng chiêu tài, phát lộc. Tỳ Hưu màu trắng thì có tác dụng bảo trợ sức khỏe. Tỳ Hưu màu xanh thì có tác dụng may mắn trong công danh.

2. Ngoài các tác dụng cá biệt như trên, Tỳ Hưu còn có tác dụng trấn nhà để tránh tà khí, ta đặt Tỳ Hưu đã được “khai quang” ở các hướng tốt trong nhà như : Sanh khí, Thiên y, Diên niên, Phục vị. Nhất là hướng “sanh khí”, thì Tỳ Hưu có thể làm cho vận mệnh các thành viên trong gia đình chuyển biến tốt, vận mệnh tốt được nâng cao, đuổi tà khí đi và có tác dụng trấn nhà, vì vậy Tỳ Hưu đã trở thành thần bảo vệ cho gia đình, bảo vệ sự bình yên cho ngôi nhà của ta.

3. Tỳ Hưu còn có tác dụng mang lại điều tốt lành : Như nhiều tài lộc, nhất là ở các sòng bạc tại hồng kông ta đều thấy họ bày Tỳ Hưu, nhưng được bảo vệ rất kỹ, vì sợ mất trộm, sẽ gây ra nhiều điều xúi quẩy cho họ. Tỳ hưu ngoài việc có tác dụng chiêu tài lộc không liêm chính như trên. Tỳ Hưu cũng còn có tác dụng chiêu tài lộc liêm chính, nên những người kinh doanh cũng đặt Tỳ Hưu ở nhà và ở công ty…

Tỳ Hưu khi đặt, đầu Tỳ Hưu phải hướng ra cửa chính,hoặc hướng ra cửa sổ để chiêu tài khí bốn phương.

4. Tỳ Hưu còn có tác dụng hóa giãi “Ngũ hoàng đại sát”. Ngũ hoàng đại sát là một sát tinh trong phong thuỷ, khi nó vào nhà thì tác dụng của nó thật vô cùng đáng sợ : Mang đến những điều bất lợi cho những thành viên trong gia đình về sức khỏe và tài vận.

Nếu ở phương vị ngũ hoàng đại sát bay đến, ta đặt hai ông Tỳ Hưu phía sau cửa chính, đầu Tỳ Hưu hướng về phía trước, thì có thể hóa giãi sát khí của ngũ hoàng đại sát.

ST

Sự tích đền ông Hoàng Bảy

Tượng Thờ Ông Hoàng Bảy
Tượng Thờ Ông Hoàng Bảy

Đền ông Hoàng Bảy – hay còn gọi là đền Bảo Hà – di tích nằm trên ngọn núi Cấm thuộc xã Bảo Hà (Bảo Yên; Lào Cai) là một điểm đến hấp dẫn du khách vì nhiều lý do; trong đó có những câu chuyện truyền kỳ khó tin.

den-ong-hoang-bay

Ông Hoàng Bảy thực sự là ai cho đến nay vẫn là một bí ẩn; dù trong dân gian có nhiều câu chuyện truyền kỳ khác nhau giải đáp điều này.

Ông “thần vệ quốc”

Người Bảo Hà chỉ biết ông Hoàng Bảy là “thần vệ quốc” – một vị anh hùng của miền sơn cước từng đánh giặc phương Bắc bảo vệ nhân dân. Khi ông mất; đền thờ ông được xây dựng trên ngọn núi Cấm; quay mặt ra phía sông Hồng; đúng thế “tựa sơn đạp thủy” để “trấn yểm” cho vùng đất biên giới được bình yên; thịnh vượng.

Truyền thuyết kể rằng; Ông Hoàng Bảy hay thường gọi là Ông Bảy Bảo Hà. Ông là con Đức Vua Cha. Theo lệnh vua; ông giáng phàm trần; trở thành con trai thứ bảy trong danh tộc họ Nguyễn; cuối thời Lê. Vào cuối đời Lê niên hiệu Cảnh Hưng (1740 – 1786 ) khắp vùng Qui Hóa gồm Châu Thủy Vĩ và Châu Văn Bàn (thuộc Lào Cai bây giờ) luôn bị giặc phương Bắc tràn sang cướp phá; khắp vùng loạn lạc; cư dân điêu tàn. Trước cảnh đau thương tang tóc ấy; tướng Hoàng Bẩy được triều đình giao trọng trách khởi binh dẹp loạn vùng biên ải. Đội quân của ông tiến dọc sông Hồng đánh đuổi quân giặc; giải phóng Châu Văn Bàn và củng cố xây dựng Bảo Hà thành căn cứ lớn.

Trong một trận chiến đấu không cân sức Ông Bảy bị giặc bắt; chúng tra khảo hành hạ dã man; nhưng ông vẫn một lòng kiên trung; quyết không đầu hàng; cuối cùng; không làm gì được; chúng sát hại ông rồi mang thi thể vứt xuống dòng sông. Kì lạ thay; di quan của ông dọc theo sông Hồng; trôi đến phà Trái Hút; Bảo Hà; Lào Cai thì dừng lại. Nhân dân trong vùng đã vớt; an táng thi thể ông và lập đền thờ tại đây để ghi nhớ công đức to lớn của ông.

Còn một điều kì lạ nữa là khi ông bị giặc sát hại; thì trời bỗng chuyển gió; mây vần vũ; kết lại thành hình thần mã; từ thi thể ông phát ra một đạo hào quang; phi lên thân ngựa; đến Bảo Hà thì dừng lại; trời bỗng quang đãng; mây ngũ sắc kết thành hình tứ linh chầu hội.

Sau này khi hiển linh ông được giao quyền cho trấn giữ đất Lào Cai; ngự trong dinh Bảo Hà; đến lúc này ông nổi tiếng là một Ông Hoàng không chỉ giỏi kiếm cung mà còn rất ăn chơi; phong lưu: khi thanh nhàn ông ngả bàn đèn; uống trà mạn Long Tỉnh; ngồi chơi tổ tôm; tam cúc; xóc đĩa… lúc nào cũng có thập nhị tiên nàng hầu cận; ông cũng luôn khuyên bảo nhân dân phải ăn ở có nhân có đức; tu dưỡng bản thân để lưu phúc cho con cháu. Triều vua Minh Mạng; Thiệu Trị sắc tặng ông danh hiệu “Trấn An Hiển Liệt” và các triều vua nhà Nguyễn khác tôn ông danh hiệu: “Thần Vệ Quốc – Ông Hoàng Bảy Bảo Hà”.

Đền Bảo Hà lưng tựa vào núi; mặt hướng theo dòng nước sông Hồng và nơi đây còn có sự kết hợp hài hòa giữa cảnh quan thiên nhiên với kiến trúc văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam theo thuyết phong thủy. Đến thờ thần vệ quốc” Hoàng Bẩy; vị anh hùng miền sơn cước đánh giặc phương Bắc bảo vệ dân làng. Vì thú chơi phong lưu của ông nên nơi ông ngự còn được mệnh danh là Trái Hút Bảo Hà.

Hội đền Bảo Hà được tổ chức vào ngày 17/7 âm lịch hàng năm. Vào ngày này có đông đảo du khách thập phương đến dự. Người ta thường dâng ngựa xám; bàn đèn; thuốc cống; kẹo xìu (kẹo lạc)…. Ngoài những ngày lễ hội; vào những ngày thường (đặc biệt là vào mùa xuân) khách thập phương trong cả nước vẫn thường xuyên tụ họp về đây để thắp hương tưởng niệm; cầu an; cầu lộc.

Tượng Thờ Ông Hoàng Bảy
Tượng Thờ Ông Hoàng Bảy

Tại sao khi lễ Ông Hoàng Bảy hay dâng trà Ô Long và thuốc phiện?

Để có thể thu phục được các thổ ti; tù trưởng thì quan Hoàng Bảy không dùng biện pháp quân sự mà bằng sự thu phục nhân tâm. Để thu phục nhân tâm ông đã chủ động hòa nhập vào cuộc sống của các tù trưởng thô ti như uống trà; đánh bạc; hút thuốc phiện…. Có lẽ vì vậy; cứ nói đến ông Hoàng Bảy là chúng ta nghĩ đến một vị quan ăn chơi bậc nhất trong các vị thánh.

Tuy vậy; sự ăn chơi của ông không phải là thú vui của ông mà chính là cách ông tiếp cận với các thổ ti; tù trưởng và sau đó cảm hóa họ để tạo nên sự đoàn kết và ổn định biên cương tổ quốc.

Tuy vậy; việc dâng ông thuốc phiện là phạm pháp; chúng ta chỉ nên dâng ông Hoàng Bảy trà tàu và thuốc lá là được. Nên nhớ rằng nhà thánh cũng không bao giờ ủng hộ chúng ta vi phạm pháp luật.

Gạt đi những chuyện mê tín

Vốn để thờ vị tướng có công đánh giặc yên dân; nhưng không rõ từ bao giờ đền ông Hoàng Bảy đã trở thành địa điểm mà “dân số má” từ khắp các nơi kéo về dâng lễ cầu lộc.

Điều đáng ngạc nhiên rất nhiều người; đặc biệt dân giang hồ đến đây cầu lộc. Ông bảo; có những đợt ông được chứng kiến tận mắt; tai nghe rõ ràng từng câu xin lộc ông Hoàng Bảy của “dân số má” rằng: “Cầu xin ngài cho con đánh lô trúng lô; đánh đề trúng đề; buôn bán trót lọt; ít qua ít; nhiều qua nhiều…”. Chỉ vài ngày sau; người ấy quay lại tạ lễ vì thắng lớn. Đấy không phải là trường hợp điển hình mà hầu hết “dân số má” đều kéo đến đền Bảo Hà xin lộc. Có lẽ vì thế; mà đền Bảo Hà được xưng tụng là “đền số má”.

Đã từng có thời gian; đền Bảo Hà trở thành một trong những “điểm nóng” về tệ nạn xã hội; đặc biệt là tệ nạn ma túy.

Cấm mang thuốc phiện vào đền

Nhiều người lạ đến đền ông Hoàng Bảy không khỏi ngỡ ngàng khi thấy những biển hiệu “Cấm mang thuốc phiện vào đền” treo từ ngoài cổng đến bên trong đền. Trước đây khi thuốc phiện còn phổ biến; dân giang hồ có thói quen dâng lễ bằng thuốc phiện. Họ mang cả thuốc phiện và bàn đèn vào đền dâng ông Hoàng Bảy để mời thánh xin lộc. Việc làm vi phạm pháp luật ấy từng gây bức xúc trong nhân dân nên Ban quản lý đền buộc phải có biển cấm và theo dõi sát những đối tượng khả nghi để kịp thời ngăn chặn.

Gạt đi những chuyện mê tín hay lời đồn thổi chưa rõ thực hư trong dân gian đó; thì đền ông Hoàng Bảy vẫn là một điểm thu hút du khách thập phương vì những nét kiến trúc cổ cũng như phong cảnh hữu tình. Dịp mùa xuân hay hội đền vào tháng 7 âm lịch; người dân nhiều địa phương trong cả nước vẫn tìm đến đây để cầu lộc; cầu an. “Đền ông Hoàng Bảy rất quan trọng trong tâm linh thờ Mẫu. Đó là một trong ba ngôi đền của tín ngưỡng thờ Mẫu có vị trí đặc biệt cùng với đền ông Hoàng Bơ và ông Hoàng Mười”

Điều chưa kể về đền Cô Bơ Bông

Cô Bơ Bông là một thánh cô nổi tiếng trong Tứ Phủ Thánh Cô. Đền chính của Cô hiện nay là Đền Ba Bông tại xã Hàn Sơn, Hà Trung, Thanh Hóa. Cô Bơ Bông còn gọi là Cô Ba Hàn Sơn, Cô Bơ Thác Hàn...

Người viết xin cung cấp cho bạn đọc nhưng điều chưa từng kể về đền Cô để các bạn biết thêm về thần tích, sự linh thiêng của đền Cô và sự hy sinh cao cả của những thủ nhang đồng đền nơi đây.

Tượng Cô Bơ Bông Hàn Sơn

Sự tích về Đền Cô Bơ Bông

Vào khoảng năm 1939 – 1940, Đền Bơ Bông đã bị giặc Nhật phá đổ, đốt tượng. Lúc đó, cụ Nguyễn Trọng Khanh là thủ nhang của đền đã bí mật cứu gỡ được một số bài vị, bát hương, đỉnh thờ và pho tượng cô đem giấu đi. Sau đó ít ngày, Cụ đã xin giặc Nhật cho lập đền thờ Trần Hưng Đạo ở khu bãi bồi bên sông cách đền cũ chừng 200 m. Cụ nói tránh là lập đền thờ Trần Hưng Đạo chứ thực chất là lập dựng lại đền Cô. Nơi dựng đền cô lúc đó chỉ toàn lau lách. Dưới sự quyết tâm của Cụ và bà con làng xóm, một ngôi đền 3 gian bằng tre nứa lá đơn giản đã được xây dựng.

Sau đời cụ Nguyễn Trọng Khanh là cụ Nụ làm thủ nhang. Cụ Nụ có công rất lớn trong việc tôn tạo lại đền. Nghe nói quê cụ tận Khoái Châu, để có kinh phí xây dựng lại đền cụ đã về quê bán hết nhà cửa ruộng đất để xây dựng được ngôi đền gạch, lợp ngói 5 gian. Cụ mất vào khoảng năm 1994 – 1995. Cụ đã được nhân dân quanh vùng đưa rước rất lớn. Hiện ngôi mộ cụ được nhân dân, xây dựng tu bổ rất hoành tráng ngay tại nghĩ trang Hàn Sơn.

Năm 1996, ngôi đền được công nhận là di tích lịch sử cấp Quốc Gia. Như vậy, ngôi đền được như ngày nay là công sức đóng góp, sự hy sinh cao cả của hai cụ thủ nhang: Cụ Trọng và cụ Nụ.

Hiện nay, khu đất cũ của đền Cô mà đã bị giặc Nhật phá đã có người dân xây dựng 3 gian nhà ngói để ở. Nhưng nghe đâu, miếng đất nơi đền cũ linh thiêng không ở được. Người ở đó đã bỏ lại ngôi nhà chỉ để dành thắp hương cho cô và đi kiếm ăn nơi xa.

Thần tích về Cô Bơ Bông

Theo cuốn “Lê Triều Thần Phả Ngoại Biên” được lưu giữ tại Thái Miếu họ Lê có ghi chép về thần tích cô Bơ Bông tóm tắt như sau:

Vào khoảng năm 1432, vua Lê Lợi có một đêm mộng thấy một nữ thủy thần báo mộng: “Ta là con gái vua Thủy tề đây. Nhà vua còn nhớ là nợ ta một lời hẹn ước hay không? Bây giờ nghiệp đế vương đã thành sao chưa thấy trả”. Vua Lê Lợi giật mình tỉnh dậy mới nhớ lại chuyện cũ. Ngày xưa, vào những năm đầu khởi nghĩa, Lê Lợi bị địch đuổi đến ngã ba sông Thác Hàn ở Hà Trung thì gặp cô gái xinh đẹp, đoan trang đang tỉa ngô được cô cứu thoát.

Vua Lê Lợi để tỏ biết ơn cô, có nói với cô rằng: ” Ta có một cháu trai tuấn tú, khôi ngô, văn võ song toàn. Sau này kháng chiến thành công ta sẽ gả cháu ta cho cô.” Người mà Lê Lợi nhắc đến chính là tướng quân Lê Khôi, cháu trai của Lê Lợi (Tướng Lê Khôi chính là một trong các hiện thân của Quan Hoàng Mười được thờ tại đền Củi ngày nay). Cô gái ấy chính là hiện thân của Cô Bơ.

Tương truyền rằng, sau thắng lợi, Vua Lê Lợi có quay lại tìm cô gái nhưng không thấy. Như vậy lời hứa gả cô cho tướng Lê Khôi đã không được thực hiện.

Sau giấc mơ, biết cô gái tỉa ngô nơi xưa chính là con gái vua thủy tề, hiện thân lên cõi trần để giúp vua xây dựng nghiệp lớn, vua Lê Lợi đã phong cô là “Thượng Đằng Thần” và cho xây dựng đền Cô, để tưởng nhớ công lao của Cô.

Thần tích về Cô Bơ Bông đã công bố

Người viết cũng xin cung cấp thêm với bạn đọc tóm tắt một số thần tích đã công bố để bạn đọc tham khảo:

Vào thời mới khởi nghĩa, có một lần Lê Lợi bị giặc đuổi đến ngã ba Thác Hàn thì gặp một cô gái đang tỉa ngô. Cô đã lấy quần áo nông dân cho Lê Lợi mặc giả làm anh trai cùng tỉa ngô. Vì thế, Lê Lợi đã thoát cuộc tuy đuổi. Lê Lợi rất biết ơn cô gái và có hẹn sau này chiến thắng sẽ đón cô về cung phong công và phong phi tử. Tuy nhiên, sau này khi kháng chiến thành công, Lê Lợi cho người về đón thì được biết cô gái vẫn một lòng kiên trinh chờ đợi cho đến khi thác hóa. Cô gái còn có công lớn trong việc vận chuyển quân lương, quân lính của Lê Lợi trong suốt cuộc khởi nghĩa.

Một huyền tích khác về Cô Ba Thoải Cung Hàn Sơn, huyền tích này nói về công trạng của Cô Bơ sau khi thác hóa.

Vào đầu triều đại Vua Lê Thánh Tông (1460 – 1497), thái úy Lê Thọ Vực, được giao trấn giữ biên ải Ba Bông. Trong một trận chiến kéo dài, tình thế nguy cấp. Đêm đó. Lê Thọ Vực đã mơ thấy một tiên nữ mặc xiêm y trắng trên mây giáng xuống ngã Ba Bông, rẽ nước bước lên kiệu võng mà nói rằng: “Hãy lui quân về Nhị Sơn hạ thủy mà vây hãm, lên núi Thạch Bàn mà cầu Mẫu thoải tất ứng linh”. Theo lời, Lê Thọ Vực đã dẫn quân xuôi về Thác Hàn Sơn dâng lễ cầu Mẫu rồi bố trí quân binh mai phục. Ứng báo của Mẫu cho kế phá giặc là lấp đá chặn dòng, lấy thủy triều dâng, làm nghi binh nhử giặc vượt qua bãi đá ngầm, khi nước thủy triều xuống thì tổng lực phản công, thuyền giặc rút chạy bị vấp vào bãi đá ngầm, lật nhào chìm đắm rất nhiều, quân mai phục đổ ra đánh úp, quân giặc chết nhiều vô kể và thất bại thảm hại, không còn dám quấy nhiễu nữa.

Để đáp lại ân đức của thánh thần, tướng quân Lê Thọ Vực tâu vua, vua Lê cho lập đền thờ Cô Bơ và đền thờ mẫu Đệ Tam ở vùng này.

Ngày tiệc Cô

Ngày 12.6 âm lịch là ngày rước Cô lên đền Mẫu. Nhưng ngày mất của Cô tương truyền là ngày 8/2. Nhiều nơi vẫn làm ngày tiệc Cô vào 8/2. Tuy vậy, để kỷ niệm ngày rước Cô lên đền Mẫu được coi là chính tiệc của Cô Bơ Bông.

( Xin cảm ơn bạn Lê Văn Sĩ – phụng thánh tại thành phố Thanh Hóa, một đệ tử của Cô Bơ Bông đã cung cấp tư liệu cho bài viết này).

LÊ HỒNG THÁI

Hiểu Đúng Về Câu Nói ” Phật Từ Bi Thánh Một Ly Cũng Chấp “

Phật Từ Bi

Là thanh đồng ai cũng biết câu nói ” Phật từ bi, thánh 1 ly cũng chấp ”, giải thích về ý nghĩa nội dung này có quan điểm cho rằng Đức Phật, Các Đức Quán Thế Âm Bồ Tát là những bậc giác ngộ đã nằm ngoài sinh tử luân hồi, nằm ngoài lục đạo, không còn tham, sân, si, hỷ, nộ, ái, ố, vì vậy “ Phật từ bi ”.

Phật Từ Bi

Còn các Thánh các Mẫu mà các Thanh đồng vẫn hầu đó là những anh hùng dân tộc, sau khi thác thì được tín ngưỡng dân gian thờ phụng, hoặc là các vị thánh trong truyền thuyết hiển linh để cứu nhân độ thế. Các vị Thánh này vốn dĩ vẫn ở trong luân hồi lục đạo, nên mới nói “ Phật từ bi Thánh một ly cũng chấp là vì thế ”.

Hiểu như vậy chưa chính xác, bởi các lẽ: Trong Thánh tích về cuộc chiến Sòng Sơn Thánh Mẫu Liễu hạnh được Phật cứu, từ đó ngài quy thuận theo Phật, đắc quả vị Bồ tát, vậy ngài cũng “ Thánh 1 ly cũng chấp” ?. Nếu cho là Thánh 1 ly cũng chấp, vậy ta biện đủ lễ rồi ko còn gì để chấp nữa, tại sao khổ vẫn hoàn khổ, nếu cứ lễ nọ lễ kia cho đủ bộ rồi cầu được ước thấy thì không bao giờ có các bạn ạ.

Hầu đồng sao cho có Phúc, có Lộc
Hầu đồng sao cho có Phúc, có Lộc

Vậy hiểu đúng câu “ Thánh 1 ly cũng chấp” chấp ở đây là chấp gì, chấp không phải đơn thuần là chấp lễ, chấp bái, mà chấp ở đây là : CHẤP TÂM, chấp tâm là nhà ngài đưa ra những khó khăn để thử thách con đồng, có những trường hợp trước khi mở phủ con đồng “sạch sành sanh”, đó là lúc nhà ngài thử tâm xem con đồng xoay sở ngân xuyến thế nào để nhất tâm bắc ghế hầu cha hầu mẹ, nếu vượt qua được thử thách là bạn đã vượt qua được bài chấp TÂM rồi đấy.

“Thánh một ly cũng chấp” chữ CHẤP ở đây còn bao hàm ý nghĩa nhà ngài tựa như cán cân công lý, cân nhắc xem xét giữa công và tội, giữa những gì ta gieo nhân và công đức tu tập ở đời này, kiếp này để quyết định ta có được như những gì ta cầu không.

Như vậy, chữ CHẤP của nhà Thánh là cái Chấp CÔNG BẰNG, chứ ko phải là cái chấp sân, si, chấp công bằng đó chính là ý nghĩa thực sự của “1 ly cũng chấp”.

Có câu: “Nhất nhật hành thiện, phước tuy vị chí họa tự viễn hỉ, nhất nhật hành ác, họa tuy vị chí phước tự viễn hỉ “, nghĩa là “Một ngày làm lành phước tuy chưa đến, mà tai họa đã lánh xa, một ngày làm dữ tai họa tuy chưa đến mà phước đã lánh xa”.

Đức Phật từ bi dạy: “Ý dẫn đầu các pháp, Ý làm chủ, ý tạo, Nếu với ý ô nhiễm, Nói lên hay hành động, Khổ não bước theo sau, Như xe chân vật kéo; Ý dẫn đầu các pháp, Ý làm chủ, ý tạo, Nếu với ý thanh tịnh, Nói lên hay hành động, An lạc bước theo sau, Như bóng không rời hình” (Kinh Pháp Cú). Mười phương ba đời chư Phật thành tựu cũng từ nhân quả.

Vì vậy câu nói “Thánh 1 ly cũng chấp có ý nghĩa rất sâu sắc”, từ sự chấp công bằng giữa NHÂNQUẢ của nhà ngài, đã hướng con người tới CHÂN – THIỆN – MỸ, chúng ta tu nhân tích đức thì sẽ nhận lại những quả ngọt cho ta và hậu thế “Người làm ác thì bị quả báo ác, người làm thiện sẽ nhận được điều tốt lành” (Ác giả ác báo, thiện giả thiện lai).

Thanh Lam

Di Cung Hoán Số Là Vọng Tưởng

Di Cung Hoán Số

GiangAnh.net đã từng chia sẻ một bài viết: Hiểu đúng về Nghi lễ Di Cung hoán số. Bài viết Di Cung Hoán Số Là Vọng Tưởng dưới đây là quan điểm của thầy Phúc Tâm Pháp Sư về việc Di cung Hoán Số và cái giá phải trả khi tự tung tự tác đổi cung đổi số cho mọi người

Con người sinh ra có thời điểm được ấn định, cấu thành bát tự là can chi của giờ, ngày, tháng, năm.

Kết quả đó được tạo ra từ việc định nghiệp và chuyển nghiệp dựa trên quy định về nhân quả báo ứng đối với một vong hồn. Bởi vậy phúc, họa hay sang, hèn, giàu, nghèo hay tai tật,…đối với mỗi nhân sinh đều phải theo cái duyên phận mà nhận lĩnh để sám hối, sửa đổi, học tập, tu luyện, trả nợ nần ân oán…trong kiếp người, không bất cứ lý do nào có thể làm thay đổi.

Di Cung Hoán Số

Cũng giống như khi đúc một cái nồi nhôm để nấu cơm, người thợ phải tính toán dựa trên tính chất cơ lý hóa của nguyên liệu, khả năng đun nấu, …sau khi đã thành sản phẩm thì cái nồi đó dùng để nấu cơm, canh là hợp lý. Muốn biến nó thành cái chảo để rán thì người ta lại phải đập bẹp nó (phá hủy) rồi cho vào lò đun nóng chảy thành nguyên liệu, sau đó dựa trên những số liệu tính toán kỹ thuật cần thiết mới đổ vào khuôn đúc thành một cái chảo nhôm dùng để rán, chiên, xào..

Hiểu như vậy chúng ta thấy nếu muốn đổi cung đổi số hay là di cung hoán số thì một người nhất định phải từ bỏ cuộc sống hiện tại (chết đi), sau đó trong U Minh Giới vong hồn được xem xét dựa trên nhân quả mà vong đó khi hồn tiền dương thế đã tạo ra để định nghiệp và tiếp tục chuyển nghiệp luân hồi nhận lấy báo ứng.

Một người kiến thức tầm thường, sơ đẳng nhất về tâm linh cũng hiểu được rằng nếu di cung hoán số mà có thật thì khái niệm Nhân Quả sẽ trở thành vô nghĩa dẫn đến loạn âm loạn dương và thầy bà là người có quyền hạn làm được việc đó tại sao không cầu cúng làm cho bản thân thay đổi số phận để trở thành sang giàu phú quý, ông nọ bà kia hay thậm chí làm tổng thống một quốc gia?

Như thế chúng ta đã hiểu rõ ràng lễ di cung hoán số là vô tác dụng và việc này trái với Thiên Quy, vi phạm luật âm giới. Người đồng thầy là người được bề trên cấp lệnh sắc, giao cho quyền hạn, mà không biết cách tìm hiểu, học tập, trau dồi kiến thức chuyên môn cho thấu đáo để thực hành các công việc tâm linh, tự tung tự tác đổi cung đổi số cho người, sau 10 lần vi phạm là sẽ bị phạt lệnh (ta hiểu là bị xóa bỏ lệnh sắc) khi đó “đồng thầy” thành “đồng thừa”, bị trả “quả” ngay trong hiện kiếp. Bản điện của đồng thầy, nơi thờ Tiên Phật Thánh Thần sẽ hết linh vì các bóng các giá không còn phụng lệnh bề trên giáng ứng nữa, khi đó giả Tiên giả Thánh đương nhiên sẽ có cơ hội tìm đến để tá nhập điều khiển đồng thầy.

Tóm lại lỗi đây chính là do con người kém hiểu biết gây ra, sự truyền thừa không chính phái hoặc bị thuật sĩ giang hồ bày đặt lừa gạt. Đồng thầy kiến thức kém cỏi mà được người đời mê mờ tung hô vạn tuế nên sớm tự mãn, ngập ngụa trong đống tiền bạc bẩn thỉu mà tự lấy làm vinh hoa, chứng đắc quả duyên, nghênh ngang không coi ai ra gì, cho nên mới lầm đường lạc lối không phân biệt nổi chính tà, hay dở làm bừa bãi bất chấp hậu quả.

Nhưng cái giá phải trả sẽ là vô cùng to lớn, hệ lụy liên quan đến con cháu dòng tộc rất là khủng khiếp, khi biết hối hận thì cũng đã muộn rồi.

Phúc Tâm Pháp Sư

Cội nguồn của Phúc Đức

Cội nguồn của Phúc Đức

“ Cội nguồn Phúc Đức ” nó ở đâu – Đầu năm mới mà người người nhà nhà đã hăng hái, lũ lượt, chen chúc, xô đẩy nhau để lễ bái ở đền, chùa, miếu, phủ, ai cũng tinh thần quả cảm, hết mình, chỉ một mong mỏi cầu được ước thấy, cho cuộc sống vươn lên, cho tinh thần hoan hỉ, cho cửa nhà cao rộng, đông con nhiều cháu, tài lộc dồi dào, công thành danh toại….!?

Chẳng ai quan tâm đến việc chúc tết, mừng tuổi cha mẹ, con cháu, hay đi thăm hỏi người thân, họ hàng sau những khoảng thời gian dài mưu sinh, xa cách. Có lẽ trong thời buổi kinh tế khó khăn, người ta trông mong vào một điều gì đó từ thế lực thần thông vô hình để được yên tâm, giải quyết yếu tố tinh thần? Hay là họ tin rằng mình đã không tiếc tiền sắm sửa mâm cao cỗ đầy, trình bày hoàn cảnh thống thiết, thì nhất định Phật Thánh sẽ gia ân ban Phúc Đức cho cầu được ước thấy chăng?

Cội nguồn của Phúc Đức

Ôi chao! Thế mới hay, không hiểu gì về tín ngưỡng tâm linh nó khổ đến mức nào, cái nhìn thấy nhãn tiền là sự vô tình, lạnh lùng, vô cảm với chính người thân của họ, khoảng cách tình cảm cha mẹ với con cái, anh chị em trong gia đình ngày càng xa lạ, chân tình khách sáo, ích kỷ hẹp hòi, cái thấy sau đó là sự mê tín tới mức không thể nào giác ngộ được.

Vậy “cội nguồn phúc đức ” nó ở đâu, mấy ai đã nhìn ra và thấu hiểu? Nay giảng giải như sau:

Quý vị đi cầu cúng lễ bái, mọi sớ điệp dâng lên rồi hóa đi, Hành Sai Sứ Giả của đạo (Phật, Mẫu) đều tiếp nhận hết, sau đó phân loại và chuyển lên các cung các cõi có thẩm quyền theo từng nội dung nguyện vọng trong lòng sớ. Bề trên phê chuẩn rồi thì Hành Sai Sứ Giả tiếp tục chuyển đơn từ xuống dưới để thực hiện, nơi ấy là nơi nào? Đó chính là Hội Đồng Gia Tiên của quý vị. Đơn của Họ nào thì về dòng họ nhà nấy mà giải quyết, Phật Thánh chỉ gia ân phê chuẩn chứ không thực hiện, việc kiểm tra, xem xét và thi hành là trách nhiệm của cấp bậc bên dưới.

Nếu như dòng họ của quý vị còn đang nghiệp chướng nặng nề, chư vong linh các thế hệ vẫn đang phải thọ hình trong địa ngục tối tăm không thể siêu, mộ phần của thân nhân quý vị lạnh lẽo, cô độc, không ai hương khói ngó ngàng, …thì việc xin cầu tài, cầu lộc, cầu danh, cầu phúc….của quý vị không thể được Hội Đồng Gia Tiên chấp thuận. Âm không siêu thì Dương không thái, đó là lẽ đương nhiên. Vì thế Tổ Cô dòng họ (người được Hội đồng Gia Tiên đề cử để đảm nhận trọng trách theo dõi, giúp đỡ thân nhân trên cõi trần) không thể nào hộ trợ cho quý vị được điều gì tốt lành, kết quả của đơn từ tấu sớ trăm điều mong ước ấy chỉ là con số không tròn trĩnh mà thôi.

Như thế cội nguồn Phúc Đức chính là ở Hội Đồng Gia Tiên hay Gia Tiên Tiền Tổ của quý vị, nơi giải quyết mọi vấn đề từ việc căn đồng số lính cho đến tài danh phúc lộc (ngoại trừ hai việc là Tiêu Tai Giải Hạn và vấn đề Sinh Tử ), nơi ấy mà chưa yên ổn vững chắc thì đừng vọng tưởng điều gì nơi Phật, Thánh.

Vậy phải làm gì để Phúc Đức tăng trưởng và tâm nguyện ít nhiều được như mong cầu?

Hãy bắt đầu từ việc nhỏ nhất là tôn cất lập thờ tại gia cho đúng, đủ, theo cổ lệ, rồi quan tâm đến mộ phần thân nhân chu đáo. Cùng với những người họ hàng tiến hành lễ giải nghiệp chướng, phả độ gia tiên, thoát linh địa ngục, hoàn thân hoàn cốt, giải bệnh lưu thân….cho chư vong linh. Dành nhiều tình cảm quan tâm đến cha mẹ, người thân, cư xử cho đúng đạo lý làm người.

Làm được như vậy thì cội nguồn phúc đức lớn lao, quý vị đi lễ bái vọng cầu mới có thể được như tâm nguyện.

Câu hỏi đặt ra, người có điều kiện kinh tế thì còn có khả năng làm lễ phả độ gia tiên, người không có điều kiện thì phải làm sao?

Trong điều kiện khó khăn, quý vị vẫn có thể thực hành để giúp chư vong linh gia tiên tiền tổ, với những vong linh chỉ phạm tội nhẹ và với nghiệp chướng dòng họ không quá nặng nề, quý vị hãy dùng cách tạo lập “Công Đức Phóng Sinh”.

Ba điều kiện để tạo lập công đức phóng sinh : Thứ nhất: phải có đức tin; Thứ hai: không phóng sinh loài gây hại, loài có độc; Thứ ba: thời gian công đức phóng sinh tối thiểu là 3 năm liên tục.

Nên phóng sinh Chim (các loại), cá Chép, Cua, Ốc, Lươn, Trạch, Rùa, Ba Ba, …những loài tính lành, nhưng riêng Tôm thì không phóng sinh.

Khi có niềm tin thuần khiết thì quý vị dù chỉ phóng sinh một con chim hay một con cá, vẫn được tính là công đức phóng sinh.

Trong trường hợp họ hàng thân quyến có nhiều người biết tạo lập công đức nói trên thì kết quả vô cùng to lớn.

Khi đã gặt hái được quả hạnh phúc ít, nhiều, thì hãy bắt tay vào việc tiến hành phả độ gia tiên cho âm siêu dương thái, phúc đức bền bỉ.

Đối với dòng họ có nghiệp chướng nặng, nhiều vong linh không thể siêu (bị tống giam trong địa ngục), người cõi trần thì lại đói rách, nghèo hèn không có điều kiện kinh tế thì cần phải có nhiều người trong dòng họ cùng tạo lập công đức trên trong thời gian dài (tối thiểu 10 năm) thậm chí cả đời.

Trong trường hợp dòng họ nghiệp đã nặng, nhưng không ai tín ngưỡng tâm linh thì làm thế nào? việc trong họ không giải quyết được nên mới phải cầu thỉnh đến Phật Thánh thế thì có được nhà ngài gia ân ban phúc không? Điều này cũng có, nhưng rất hiếm, còn phải tùy duyên, nhà ngài sẽ căn cứ trên duyên nghiệp của quý vị mà gieo duyên cho người có thiện tâm, có đức tin thuần khiết, không vụ lợi và điều kiện, quý vị nhất định sẽ có được cơ hội mở mày mở mặt để từ đó giác ngộ, thúc đẩy cho dòng họ đi lên.

Như vậy Cội nguồn phúc đức chính là ở Hội Đồng Gia Tiên, quý vị hãy thực hành nghiêm túc sẽ thấy kết quả viên mãn, lúc nào cũng được Tổ cô và các vong linh tu tập tốt (đắc đạo) dẫn dắt, đưa đường, khai sáng, hộ trợ.

Riêng việc cúng lễ Tiêu Tai Giải Hạn và vấn đề Sinh Tử (Sống chết) Hội đồng gia tiên không được phép can thiệp. Khi quý vị làm lễ Tiêu Tai Giải Hạn đúng cách, đúng thời gian, đúng địa điểm, thì Hành Sai Sứ Giả trực thuộc Ngũ Vị Hành Sai Tổng Binh Sứ Giả sẽ ghi vào sổ “Cân Công Đức”, khi xảy ra tai ương hoạn nạn nghiêm trọng với người có tên trong sổ này, Hành Sai sẽ đưa sổ đó lên các cung các sở để đối chiếu xem xét, giảm án.

Còn vấn đề Sinh Tử là việc của “Bề Trên”, số trời quy định không cách gì thay đổi được, Hội Đồng Gia Tiên dẫu có biết cũng không giúp gì được.

Hiểu ra vấn đề rồi thì quý vị không cần phải chen lấn xô đẩy, chửi bới nhau, cắn xé nhau, giành giật chỗ đứng để lễ Phật, bái Thánh, cũng không phải sớm mai ngày tết đầu xuân, mới mở mắt ra đã lo đi đền, đi chùa, tụ tập nhau mua sắm đủ thứ không tiếc tiền, nhưng lại tiếc sự quan tâm chăm sóc dành cho những người thân yêu của mình.

Phúc Tâm Pháp Sư

Sự thật bí ẩn đằng sau một câu ca dao: “mùng 5, 14, 23 – đi chơi còn lỗ nữa là đi buôn”

câu ca dao: mùng 5, 14, 23

Từ xưa dân gian ta có rất nhiều những câu tục ngữ, ca dao để truyền bá kiến thức về tự nhiên, kinh nghiệm sản xuất và kinh nghiệm trong ứng xử xã hội. Trong kho tàng bao la, vô tận, phong phú và trùng trùng lớp lớp đó, có kinh nghiệm về chọn ngày tốt và giờ tốt để làm những việc quan trọng. Ông bà ta có câu ca dao:

“Mùng năm, mười bốn, hai ba

Đinh chơi còn lỗ nữa là đi buôn”

Vậy sự thật đằng sau câu nói này là như thế nào ? 

 câu ca dao: mùng 5, 14, 23

Theo sách lịch Trung Quốc:

Vào các ngày mùng 5 âm lịch, 14 âm lịch và 23 âm lịch hay còn gọi là các ngày Nguyệt kỵ, tránh làm những công việc có tính chất quan trọng. Đến mức độ đi chơi còn không nên, huống hồ là đi buôn.

Ngày này là ngày ở Trung cung (ngôi Trung ương ở Hà Đồ) mà Trung cung lại là ngôi vua và lấy số 5 làm biểu hiệu. Số 9 là cửu cung.

Đếm từ 1 đến 5 thì số 5 nhập vào Trung cung, rồi cộng thêm vào số cửu cung (tức là số 9) nữa thì được 14 cũng nhập vào Trung cung, cộng thêm số 9 nữa thì được 23 cũng lại nhập Trung cung nữa. Như vậy là ba lần đều nhập Trung cung (mùng 5, 14, 23).

Ngôi Huỳnh sát là hung sát ở Trung ương (trung cung), mà Thái Tuế (ngôi vua) lại chồng lên ngôi Huỳnh sát, cho nên kẻ dưới phải tránh người trên. Nếu không tránh mà phạm tới bề trên phải gặp hung lai.

Ngoài ra, các ngày 5, 14, 23 cộng lại đều bằng 5 (cụ thể là: ngày mùng 5, ngày 14 gồm 1 + 4 = 5, ngày 23 gồm 2 + 3 = 5), dân gian thường gọi là ngày “nửa đời, nửa đoạn” nên làm gì cũng chỉ giữa chừng, vất vả, khó đạt được mục tiêu.

Đây cũng là những ngày ”con nước’‘ (tức là ngày triều cường, thường sinh ra những dòng hải lưu bất thường gây nguy hiểm cho thuyền bè). Theo đó, những ngày này thường đem đến xui xẻo cho mọi người nhất là khi đi xa, do người xưa chủ yếu đi lại bằng đường thủy.

Xét ở góc độ khoa học, những ngày trên, con người bị tác động mạnh nhất của lực tương hỗ với mặt trăng. Nó làm ảnh hưởng tới sức khỏe, thần kinh dễ làm con người mất tự chủ dễ xảy ra sai lầm trong tính toán, hành động. Đã có nghiên cứu về hiện tượng gia tăng tai nạn, rủi ro vào trung tuần trăng. Và cũng vào những ngày trên chó sói thường tru gọi bầy, chó nhà thường hay ”cắn hóng”.

Đặc biệt nhất là ngày 5 tháng 5 (trùng lặp Ngũ hoàng thổ), người ta thường nói “nen nét như rắn mùng 5”. Vào ngày này rắn không ra khỏi mà bởi vì thời gian đó phương lực ly tâm từ Trái Đất kết hợp với lực hấp dẫn từ Mặt Trăng, hướng tâm từ Mặt Trời và vũ trụ không bình thường gây cho rắn run sợ, ù tai, hoa mắt không dám ra ngoài. Tương truyền ai chặt được đầu rắn mùng 5 ra đường sẽ gặp nhiều may mắn.

Ngày nay, cuộc sống hiện đại cởi mở, nhiều người không còn đặt nặng vào tục kiêng kỵ như trước đây. Với mọi người, mùng 5, 14, 23 cũng là một ngày bình thường và nhiều người vẫn chọn để làm những việc quan trọng. Và thực tế cuộc sống cho thấy rằng, không phải cứ câu dân gian nào cũng áp dụng vào đời sống hiện đại, nhất là lại áp dụng máy móc lại càng không hợp.

-ST-

Bài viết mới