fbpx

Đôi Cô Cam Đường và Thần tích

Trước nay một số thanh đồng thường nhầm lẫn thỉnh ‘ Đôi Cô Cam đường”; và cho rằng cô là cô thứ hai thuộc hàng Tứ phủ; giống như Cô Đôi thượng; nhưng điều này không đúng. Đôi cô Cam Đường là hai cô và là Cô Bản Cảnh.

“ Cô Đôi” không phải là Cô đứng thứ hai trong hệ thống tứ phủ; mà “ Cô Đôi” nghĩa là hai Cô ở đất Đình Bảng sau này hiển linh ở đất Cam Đường. Vốn trước đây thuật ngữ nói về hai cô là Đôi cô cam đường; nhưng dần dần người dân đảo đi đảo lại thành Cô đôi cam đường

Ban Doi co

Thần tích: 

Theo bản tích thì hai Cô là người đất Đình Bảng làm nghề buôn bán vải; sau cô mất đi thì nhân dân lập Đền thờ và thấy linh ứng. Như vậy Cô không phải là Cô Đôi trong hệ thống tứ phủ; vì Cô Đôi trong hệ thống tứ phủ là Cô hầu cận Mẫu Thượng Ngàn.

 Về tích của Đôi Cô; theo truyền thuyết: Xưa kia; vùng Lào Cai là nơi buôn bán trao đổi hàng hóa tấp nập giữa miền xuôi và miền ngược; ngày đó có 2 người con gái còn rất trẻ; tuổi độ đôi mươi; quê từ làng Đình Bảng- Bắc Ninh lên buôn bán vải. Hai cô gái thường ở lại khu làng chiềng On để buôn bán trao đổi vải lấy các sản phẩm khác đem về xuôi; tình cảm của dân làng với 2 cô gái rất gắn bó và thân thiết.

Bẵng đi một thời gian không thấy 2 cô gái đến nữa; rồi một ngày người làng Chiềng bỗng phát hiện thấy xác 2 cô trôi dạt về làng (nơi đền Đôi Cô ngày nay). Làng Chiềng lập miếu thờ hai cô. Từ đó dân làng làm ăn phát đạt; mùa màng bội thu… tiếng lành đồn xa; không những người dân địa phương mà cả du khách khắp mọi miền cũng về đây thắp hương tưởng nhớ 2 cô gái trẻ tốt bụng luôn phù hộ cho người dân có cuộc sống ấm no; yên bình. Ngày tháng trôi qua; am miếu nhỏ đã được nhiều lần sửa sang trùng tu lại thành đền khang trang hơn gắn với tên gọi là “đền Đôi Cô” như ngày nay. Theo truyền thuyết này thì Cô Đôi Cam Đường mới có từ đời chống nhà Thanh – Trung Quốc.

Người già trong làng còn kể rằng; chính hai cô gái trẻ đó là người thường xuyên vận chuyển hàng hóa vải vóc lên vùng Lào Cai tiếp tế quân lính chống giặc ngoại xâm. Hai cô bị giặc phát hiện giết chết ném xác xuống suối; rồi trôi dạt về làng Chiềng On.

Đền Đôi Cô Cam Đường:

Tài trợ

Đền Đôi Cô – Cô Đôi Cam Đường còn được người dân gọi với tên khác là đền “Cô Đôi Cam Đường”. Ngôi đền đã tồn tại cách nay hàng trăm năm; gắn liền với truyền thuyết lạ. Toạ lạc tại một vị trí khá đẹp tại thôn Chiềng On; xã Cam Đường; thị xã Lào Cai; nay thuộc phường Bình Minh;thành phố lào cai; tỉnh lào cai. Phía trước đền là dòng suối xanh; lưng đền dựa vào gò đồi đất lớn.

Tuy quê Cô ở Bắc Ninh nhưng lại hiển thánh ở thị xã Cam Đường; Lào Cai; nên người dân ở đó lập Đền cô đôi Cam Đường. Cô Đôi Cam Đường từ một am miếu nhỏ; tồn tại qua hàng trăm năm. Trải qua nhiều thăng trầm và biến động của lịch sử; đáp ứng nhu cầu văn hóa tâm linh của người dân địa phương cũng như du khách thập phương. ngày nay vẫn là nơi linh thiêng trong tâm linh của người dân Lào Cai.

codoicamduongDo không chính thức thuộc hàng tứ phủ nên giá Đôi cô thường được thỉnh sau giá Cô Bé. Khi ngự đồng Cô mặc áo tứ thân xanh; chít khăn mỏ quạ; đội nón quai thao ( nón ba tầm); trêm vai là chiếc đòn gánh cong với hai đầu là đội túi đẫy dịu dàng đựng vải.

Cũng giống như những ngôi đền khác; đền Đôi Cô hàng năm cũng có một số ngày lễ hội chính như:

– Lễ tết thượng nguyên tổ chức vào ngày 10 tháng Giêng âm lịch.

– Lễ vào hè tổ chức vào ngày 10 tháng 4 âm lịch.

– Lễ ra hè tổ chức vào ngày 10 tháng 7 âm lịch.

– Ngày lễ chính của đền Đôi Cô tổ chức vào ngày 13 tháng 9 âm lịch.

VĂN ĐÔI CÔ CAM ĐƯỜNG

Thắp một tuần nhang lòng thành thắp một tuần nhang.

Dâng văn sự tích Cam Đường Tiên Cô.

Gương tần tảo đời đời ghi nhớ.

Chữ thiện tâm ghi tựa vàng son.

Trăm năm bia đá vẫn mòn.

Trăm năm bia đá vẫn mòn.

Cam đường cổ tích miếu đền ngàn thâu.

Đường cam lộ; chợ dầu đình bảng.

Có đôi cô buôn bán tha hương.

Đòn cong túi đẫy dịu dàng.

Đòn cong túi đẫy dịu dàng;

Cam đường cổ tích miếu đền ngàn thâu.

Đường cam lộ chợ dầu đình bảng.

Có đôi cô buôn bán tha hương.

Đòn cong túi đẫy dịu dàng.

Đòn cong túi đẫy dịu dàng.

Ngược xuôi thuận nẻo cam đường chợ xa.

Hai túi đẫy lượt là nhiễu vải.

Lụa tơ vàng ; sồi ; đũi; hoa trơn.

Hai vai gánh nặng càn khôn.

Hai vai gánh nặng càn khôn.

Tràm xanh linh tía; cau non vải trầu.

Đường xa tắp mà lòng cô không ngại.

Giúp người đời có vải ấm thân.

Niềm tin đồn đai xa gần.

Cô đi tới đâu hoa cười chim hót.

Các bản làng nhẹ gót thanh thanh.

Suối khe đồi núi gập ghềnh.

Suối khe đồi núi gập ghềnh.

Vải tơ đem đến thắm tình ngược xuôi.

Dân đâu đó nhớ người tiên nữ.

Vẻ thanh thanh mắt tựa sao sa.

Hương thơm thơm tóc phượng già già.

Thơm thơm tóc phượng già già.

Hây hây má phấn da ngà lưng ong.

Núm đồng tiền giá trong ngọc khuyết.

Nở nụ cười héo nguyệt hờn hoa.

Cô độ người trên bộ dưới sông.

Thuận buồm xuôi ngược thong dong cô đi về.

Khắp nương bản nhờ uy tế độ.

Ai khẩn cầu phúc thọ tài danh.

Cam đường dựng miếu anh linh.

Sở cầu như nguyện; hữu tình thế gian.

Cô dạo cảnh đông cuông trái út.

Đền bảo hà; mỏi gót lào cai.

Sông thao bẻ lái chèo bơi.

Khi vào đom hán; khi chơi lạng giàng.

Khi chơi cảnh Hà giang bắc lục.

Thú lâm tuyền rừng trúc rừng mai.

Cam đường quả ngọt hoa tươi.

Lẵng hoa cô quẩy trên vai dịu dàng.

Khi ngoạn cảnh hà giang bắc lục.

Thú lâm tuyền rừng trúc rừng thông.

Xe loan thánh giá hồi cung.

Nguồn : ST

Gửi Giang Anh lời cảm nhận nhé !
Đang xem bình luận...